Category Archives: TAM SINH TAM THẾ – Truyện

TAM SINH TAM THẾ – THẬP LÝ ĐÀO HOA

Tác giả: Đường Thất Công Tử
Thể loại: Ngôn Tình, Huyền Huyễn, Cổ Đại, Ngược Tâm, HE

Tam Sinh Tam Thế – Thập Lý Đào Hoa truyện thuộc thể loại ngôn tình cổ đại của tác giả Đường Thất Công Tử rất nổi tiếng mà người đọc mê truyện không thể bỏ qua được.

Dòng tộc nhà Bạch Đế Hồ Quân sinh ra được bốn người con trai và một nữ nhân duy nhất, nàng xinh đẹp nổi tiếng nhưng rốt cuộc cũng chỉ là một trò đùa của sinh mệnh, sống tới mười bốn vạn tuổi bất quá cũng chỉ gặp được năm đóa hoa đào.

Trong năm đóa lại chỉ có một vị phu quân đúng ý nàng nhất là vị thái tử Dạ Hoa ở nơi Cửu Trùng Thiên vướng bận những ân oán nàng thầm tiếc nuối không gặp được hắn giữa những giây phút thanh xuân tốt đẹp nhất trong đời mình…
————————————
DANH SÁCH:
Hồi 1: Một đóa hoa đào trốn nhà theo trai
Hồi 2: Ba trăm năm sau, bỗng dưng trùng phùng
Hồi 3: Thiếu phụ này rất bất hạnh
Hồi 4: Làm thế nào để chia uyên rẽ thúy
Hồi 5: Cung Đại Tử Minh có rất nhiều hoa cỏ lạ
Hồi 6: Chuyện đã qua không nên quay đầu lại
Hồi 7: Chinh phục nàng, hãy chinh phục dạ dày của nàng trước
Hồi 8: Sinh nhật của cục bột nhỏ
Hồi 9: Số mệnh của tiểu đệ Nguyên Trinh thật ly kỳ
Hồi 10: Cháu gái Phượng Cửu của ta
Hồi 11: Độ kiếp cũng cần kỹ thuật
Hồi 12: Quyết chiến cung Đại Tử Minh
Hồi 13: Vạn tuế già nở ra sen tịnh đế
Hồi 14: Nàng cũng từng tràn trề sắc xuân
Hồi 15: Năm tháng thua xa cuộc bể dâu
Hồi 16: Hai ngày chơi trên Thiên Cung
Hồi 17: Mưa máu gió tanh, cũng thành tro bụi
Hồi 18: Nếu có một ngày, tình yêu của nàng dành cho ta chỉ còn lại nắm xương tàn
Hồi 19: Tình nhen tự thuở nào, mà nồng thắm không hay
Hồi 20: Ta tiếc rằng đã không thể gặp chàng trong những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời
Hồi 21: Cùng với tiếng rồng gầm trên Côn Luân, người đã quay về rồi
Hồi 22: Sau đèn Kết Phách, mối bi tình đó tới tới lui lui
Hồi 23: Chàng là bài ca bất tận của ta

05Feb/17

TAM SINH TAM THẾ – THẬP LÝ ĐÀO HOA – Hồi 23

Chàng là bài ca bất tận của ta

Ta ngồi nghe kịch trong một tòa lầu ở trần gian. Dạ Hoa đã rời xa ta tròn ba năm. Ba năm trước, trận chiến Nhược Thủy, Kình Thương chết, Dạ Hoa dùng nguyên thần tế chuông Đông Hoàng, hồn bay phách tán. Quạt Ngọc Thanh Côn Luân nhận một nửa tiên lực của ta, đã bắn về phía chuông Đông Hoàng một cái rất mạnh, khiến chuông kêu rền rĩ bảy ngày trời.

Chiết Nhan nói, khi lão đến, Dạ Hoa đã tắt thở lâu rồi, toàn thân ta đẫm máu, đầu tóc rối bù ôm chàng ngồi dưới chân chuông, quanh người tạo một đạo tiên chướng dày đặc, không ai lại gần được. Chuông Đông Hoàng kêu rền rĩ bảy ngày, khiến chúng thần ở tám cõi tề tựu bên Nhược Thủy. Thiên Quân phái mười bốn vị tiên bá đến mang tiên thể của Dạ Hoa đi, mười bốn tiên bá đứng bên ngoài đánh ra sấm sét suốt bảy ngày bảy đêm cũng không thể làm tiên chướng kia nứt ra một kẽ hở.

Chiết Nhan nói, ta còn tưởng ngươi ôm Dạ Hoa ngồi ở bến Nhược Thủy suốt đời, may mà tiếng chuông Đông Hoàng vang xa, quấy rầy sự thanh tu của Mặc Uyên, ngày thứ tám đã kéo Mặc Uyên tới.

Những gì lão nói ta không nhớ gì cả. Khi đó, ta chỉ cảm thấy Dạ Hoa chàng chết rồi, ta cũng chết theo. Thực ra ôm chàng ngồi cả đời bên Nhược Thủy cũng không tồi. Cho dù chàng không thể mở mắt lại, cũng không thể nhếch miệng cười lạnh lùng, cũng không thể ghé sát tai ta gọi tên ta, cũng không thể… nhưng chí ít ta còn có thể ngắm khuôn mặt chàng, ta biết rằng chàng ở bên cạnh ta.

Chiết Nhan nói, Mặc Uyên tới vào ngày thứ tám. Người tới lúc nào ta cũng không hay, trong lúc mông lung có lẽ có ấn tượng, khi đó ta ngồi dưới chân chuông Đông Hoàng, đầu óc trống rỗng, không biết gì hết, trong nháy mắt lại nhìn thấy Mặc Uyên đứng ngoài tiên chướng, cau mày nhìn ta.

Trái tim đã khô héo của ta hơi hơi có tri giác, mới biết rằng mình còn sống, Dạ Hoa đã tế sống nguyên thần, hồn phách tiêu tan, Dạ Hoa, chàng đã chết rồi. Ta nhìn thấy Mặc Uyên ở rất gần, cảm thấy có lẽ Mặc Uyên có cách cứu Dạ Hoa, năm đó người cũng trải qua kiếp nạn chuông Đông Hoàng, cuối cùng cũng trở về. Ta cảm thấy chỉ cần có thể cứu được Dạ Hoa, chỉ cần có thể khiến chàng lại gọi ta một tiếng Thiển Thiển, đừng nói bảy vạn năm bảy mươi vạn năm ta cũng vui vẻ chờ.

Ta dẹp bỏ tiên chướng, định ôm Dạ Hoa quỳ dưới chân Mặc Uyên cầu xin người cứu Dạ Hoa, muốn đứng dậy mà toàn thân không có sức. Mặc Uyên bước nhanh đến, nhìn kỹ một lúc lâu, rồi thở dài nói: “Chuẩn bị một cỗ áo quan, để Dạ Hoa an nghỉ”.

Mặc Uyên quay về Côn Luân, ta đưa Dạ Hoa về Thanh Khâu, mười bốn tiên bá cũng đuổi theo sau. Ta cảm thấy Dạ Hoa chàng là của ta, ta không thể giao chàng cho bất cứ ai. Một hàng tiên bá đứng chờ ở cửa cốc nửa tháng, không lập được công lao mà phải quay về Cửu Trùng Thiên đợi lệnh.

Ngày hôm sau, cha mẹ của Dạ Hoa đến Thanh Khâu.

Người mẹ có khuôn mặt dịu dàng, đôn hậu của chàng tức đến toàn thân run rẩy, cầm chiếc khăn thêu ướt đẫm lên lau mắt, nói: “Hôm nay ta mới biết ngươi chính là kẻ phàm trần tên Tố Tố khi xưa, con trai Dạ Hoa của ta đã gây nên tội nghiệt gì, mà trước sau hai lần đều gặp phải ngươi. Khi ngươi là Tố Tố, nó hết lòng vì ngươi, vì ngươi mà sẵn sàng bỏ ngôi vị thái tử. Món nợ giữa ngươi và công chúa Chiêu Nhân, Thiên Quân xử ngươi phải trả nàng đôi mắt, phán ngươi sau khi sinh A Ly ba tháng phải chịu hình phạt sét đánh, chẳng qua ngươi chỉ mất đi đôi mắt mà thôi, con trai ta đã thay ngươi chịu hình phạt, ngươi lại sống chết nhảy xuống Tru Tiên đài. Được, ngươi nhảy rồi, con trai ta cũng nhảy theo ngươi. Đó là kiếp nạn ngươi được thăng làm thượng thần, còn Dạ Hoa ư, nhảy xuống Tru Tiên đài, ngủ vùi suốt hơn sáu mươi năm. Bây giờ ba trăm năm sau, lại vì ngươi, vì ngươi mà tan thành tro bụi. Con trai ta từ khi gặp ngươi không được sống một giờ vui vẻ. Nó vì ngươi làm bao nhiêu việc, còn ngươi đã làm gì cho nó? Ngươi chẳng làm gì hết, giờ lại ngang nhiên chiếm lấy nó. Giờ nó đã chết rồi, đến thi thể của nó ngươi cũng chiếm ư? Ta chỉ hỏi ngươi, ta chỉ hỏi ngươi một câu, ngươi dựa vào cái gì?”.

Cổ họng ta đắng chát, loạng choạng lùi lại phía sau hai bước, Mê Cốc liền giơ tay đỡ ta. Cha Dạ Hoa đứng bên cạnh nói: “Đủ rồi”. Rồi lại quay lại nói với ta, “Tiểu nhi giết Kình Thương, dùng nguyên thần để ngăn chuông Đông Hoàng hủy diệt chư thiên, đã chết vì nghĩa lớn, Thiên Quân đã có truy phong. Những lời của Nhạc Tế đều là đàn bà nông cạn, thượng thần chớ nên để bụng. Nhưng thi thể của tiểu nhi, thượng thần nên trả lại. Thượng thần tuy có hôn ước với tiểu nhi, nhưng vẫn chưa kết hôn, chiếm giữ thi thể của tiểu nhi, về tình về lý đều không được. Tiểu nhi khi còn sống là thái tử của Thiên tộc, Thiên Đình có những quy định không thể thay đổi, như tiểu nhi đây, sẽ được chôn ở biển Vô Vọng tại tầng trời thứ ba mươi sáu, mong thượng thần tác thành”.

Ngày Dạ Hoa bị đưa về Cửu Trùng Thiên là một ngày u ám, gió thổi hiu hiu.

Ta hôn khắp hàng mi, đôi mắt, gò má, sống mũi chàng, khi chuyển đến môi chàng, trong lòng bỗng nảy sinh một suy nghĩ cực kỳ hoang đường, hy vọng chàng có thể tỉnh lại, có thể ghì lấy trán ta nói: “Chẳng qua ta đùa với nàng thôi”. Nhưng rốt cuộc chỉ là vọng tưởng ngốc nghếch của ta mà thôi.

Dạ Hoa được cha mẹ chàng đặt trong cỗ quan tài bằng băng, đưa qua mặt ta, rời khỏi Thanh Khâu. Ta chỉ giữ lại bộ áo bào đen nhuộm đầy máu của chàng.

Trước đây Chiết Nhan từng cho ta một cây đào. Ta trồng nó ở trước cửa động Hồ Ly, ngày ngày tưới nước bón phân, không lâu sau cành lá đã sum suê. Ngày cây đào nở đóa hoa đầu tiên, ta đem bộ áo bào của Dạ Hoa đặt vào quan tài, chôn dưới gốc đào, làm một nấm mồ áo mũ, không biết khi cây đào này thắm sắc đầy cành, nó sẽ như thế nào.

Mê Cốc nói: “Cô cô, người vẫn nhớ người còn một đứa con trai chứ, có đón tiểu điện hạ về Thanh Khâu không?”.

Ta xua xua tay. Đương nhiên ta vẫn nhớ mình còn một đứa con trai, ta đặt tên cho nó là A Ly. Nhưng đến bản thân ta còn chẳng chăm sóc nổi, huống hồ là A Ly. Để nó trên trời nó sẽ được chăm sóc tốt hơn.

Sau khi Dạ Hoa bị cha mẹ chàng đưa đi, ta ngồi thừ dưới gốc đào nửa tháng, cả ngày ngẩn ngẩn ngơ ngơ, bóng hình chàng hiện ra trước mắt, đều là toàn thân áo đen, máu tóc xõa ra dịu dàng, đuôi tóc buộc một dải lụa, hoặc là dựa vào đầu gối ta lật sách, hoặc là ngồi trước mặt ta vẽ mấy bức tranh, khi Thủy Quân làm mưa, còn ôm ta vào lòng, che mưa cho ta. Nửa tháng ngồi thừ ở dưới gốc đào này, ta cảm thấy Dạ Hoa luôn luôn bên ta, ta rất hạnh phúc.

Ta cảm thấy vô cùng hạnh phúc, nhưng Chiết Nhan, tứ ca đến cả Mê Cốc, Tất Phương, bốn người đều không hạnh phúc như ta. Đêm thứ mười sáu, tứ ca cuối cùng không chịu được đã lôi ta vào trong động, đưa gương cho ta soi, giận dữ quát: “Muội xem muội đã thành cái gì thế này, Dạ Hoa chết rồi, muội không sống nổi sao?”.

Tứ ca nói không sai, ta cảm thấy mình sống không nổi. Nhưng ta không biết mình tan thành tro bụi có chắc chắn tìm được Dạ Hoa hay không. Tan thành tro bụi, có lẽ chẳng còn gì hết, quay về với đất mẹ mà thôi. Nếu ta tan thành tro bụi, nói không chừng chẳng còn nhớ Dạ Hoa, vậy chẳng phải tan thành tro bụi càng tốt hay sao, bây giờ ta còn có thể lúc nào cũng nhìn thấy chàng cười với ta, như vậy tốt biết bao.

Nữ thần trong gương khuôn mặt trắng bệch, hình dung tiều tụy, hai mắt buộc một dải lụa dày, trên dải lụa còn vương mấy chiếc lá. Dải lụa này không giống với dải lụa ta buộc mọi khi. Đầu óc chậm chạp suy nghĩ, a, tháng trước Chiết Nhan đã thay mắt cho ta, dải lụa này là dải lụa có thuốc của lão, không giống với dải lụa cha làm cho ta.

Tứ ca thở dài một tiếng, trầm giọng nói: “Tỉnh lại đi, muội đã sống ngần này tuổi, sinh ly tử biệt, còn nhìn không thấu hay sao?”.

Không phải là nhìn không thấu, mà chỉ là không biết làm thế nào để nhìn thấu. Nếu như ta biết phải làm thế nào, có lẽ đã có thể nhìn thấu rồi. Đêm đó uống say, đánh vỡ đèn Kết Phách, khiến ta nhớ ra những chuyện ba trăm năm trước, không biểu vì sao lại không nhớ ra những điểm tốt của Dạ Hoa, mà chỉ nhớ ra những điểm không tốt của chàng. Còn giờ đây, Dạ Hoa ra đi rồi, nhưng lại chẳng nhớ ra được những điểm không tốt của chàng, trong đầu toàn là những điểm tốt của chàng. Trước đây ta mắng Ly Kính thậm tệ, nói hắn cả đời chỉ theo đuổi những thứ chưa đạt được, hễ chiếm được rồi thì không còn trân trọng. Chẳng phải ta cũng thế sao.

Sông dài trăng tròn, đêm khuya người vắng. Không việc để làm, chỉ có thể ngủ.

Vốn dĩ ta không nghĩ rằng có thể gặp Dạ Hoa trong mộng, trong giấc mộng này, ta lại gặp được chàng.

Chàng ngồi duyệt công văn sau một chiếc bàn, rất lâu sau, mới dẹp đống công văn sang một bên, hơi cau mày nhấp một ngụm trà, đặt chén trà xuống, ngẩng đầu cười rạng rỡ: “Thiển Thiển, qua đây, kể cho ta nghe hôm nay nàng đọc được truyện gì nào”.

Ta chìm trong giấc mộng không muốn tỉnh lại. Đây đúng là ân đức ông trời ban cho ta. Khi ta ngồi thừ dưới gốc cây đào, ảo ảnh đó chưa từng nói với ta, còn Dạ Hoa trong mộng, lại không khác gì khi còn sống, không chỉ cùng ta đi dạo, đánh cờ, mà còn nói chuyện với ta.

Từ đó về sau, ngày ngày ta đều có thể mơ thấy chàng. Ta cảm thấy ngủ đúng là một hoạt động bổ ích.

Thực ra ở một góc độ khác mà nghĩ, thì cũng đúng thôi. Trần gian có điển tích “Trang Chu mộng điệp”, nói một người phàm tên là Trang Chu mơ thấy mình biến thành một con bướm, vỗ cánh bay đi rất vui vẻ. Không lâu sau tỉnh lại, mới phát hiện mình vẫn là Trang Chu. Không biết là Trang Chu nằm mơ hóa bướm, hay là bướm nằm mơ hóa Trang Chu. Trước đây ta sống qua ngày một cách đơn giản, coi mộng cảnh chỉ là hư ảo, còn giờ nó lại khiến ta đau khổ tột cùng, không được như người đó, biến mộng cảnh thành hiện thực, biến hiện thực thành hư ảo. Cuộc đời vẫn như thế, chẳng qua chỉ thay đổi cách sống mà thôi, lại có thể khiến ta vui vẻ hạnh phúc. Đâu cũng là một cách nhìn thấu.

Chiết Nhan và tứ ca thấy ta thần sắc dần dần tốt lên, chỉ là gần đây luôn thèm ngủ thôi, nên không thường xuyên trông coi ta nữa, có lẽ họ cũng an tâm phần nào rồi.

Cửu Trùng Thiên không có tin tức gì của tân thái tử, chỉ nghe nói công chúa Chiêu Nhân vĩnh viễn bị đuổi khỏi Tiên tộc. Vì khi chuông Đông Hoàng có rung động khác lạ, nàng ta thân là tiên nga canh chuông, lại không làm trọn chức trách, kịp thời báo lên Thiên Đình. Nàng ta không làm tròn chức trách đã gián tiếp để thái tử Dạ Hoa một mình chiến đấu với Kình Thương không người chi viện, phải dùng nguyên thần tế chuông Đông Hoàng, hồn bay phách tán. Thiên Quân đau đớn vì mất cháu, giận dữ lôi đình, lập tức biếm nàng ta khỏi Cửu Trùng Thiên, liệt vào hàng luân hồi lục đạo, muôn đời chịu tình kiếp.

Ta cảm thấy Thiên Quân trừng phạt Tố Cẩm cũng hơi quá, có lẽ là giận cá chém thớt. Nhưng chuyện này chẳng liên quan gì tới ta, nên cũng chỉ coi đó là chuyện phiếm nghe chơi mà thôi.

Đổi một vai khác để đi trên con đường đời này, ta vẫn sống rất ổn. Ta tin rằng, Dạ Hoa vẫn sống trên đời này.

Lúc đầu làm cho chàng một nấm mồ mũ áo là điều ta không muốn nhìn thấy nhất. Vì lúc nào nó cũng nhắc nhở ta, tất cả đều do mi tự đặt ra mà thôi, Dạ Hoa chết rồi, chàng đã chết rồi. Ta cảm thấy nơi đó là nơi đáng sợ nhất, nhưng lại không nhẫn tâm sai Mê Cốc đào nấm mồ mũ áo đó lên. Đành sang ở một động khác trong động Hồ Ly.

Khi rảnh rỗi tứ ca thường dẫn ta xuống phàm trần du ngoạn, để ta khuây khỏa, nhân thể cũng để lòng huynh ấy khuây khỏa. Lúc chơi trên núi, huynh ấy sẽ nói: “Muội nhìn ngọn núi cao chọc trời này, đứng trên đỉnh núi nhìn xuống, thế gian này nhỏ bé biết bao, nhưng cũng không thể trong phút chốc khiến muội to lớn hơn phải không? Không thể khiến muội cảm thấy nỗi đau ái tình của nhi nữ chỉ là mây bay ngang trời, hễ xua tay là tan đi sao?”. Lúc chơi trên sông biển, huynh ấy sẽ nói: “Muội nhìn dòng thác chảy như bay kia xem, đổ vào sông lớn, chẳng kể ngày đêm, chưa từng quay đầu. Muội nhìn dòng thác này, chẳng phải cảm thấy đời người cũng như vậy, không thể quay đầu, luôn luôn phải nhìn về phía trước sao?”. Lúc dạo chơi ở chợ, huynh ấy sẽ nói, “Muội nhìn đám người phàm trần như kiến này xem, có thể sống trên đời không quá trăm năm, huống hồ còn bị Ti Mệnh sắp đặt biết bao khốn khổ, người làm ruộng thì cả đời nghèo khổ, người đọc sách thì chí không được vẫy vùng, khuê nữ thì lại gả cho những gã chồng khốn nạn, nhưng họ vẫn vui vẻ mà sống. Muội nhìn những người phàm trần đó, không phải cảm thấy mình vẫn sống tốt hơn họ nhiều sao?”.

Ban đầu ta còn lắng nghe, về sau huynh ấy càng nói nhiều, mỗi lần đều nói này nói kia, ta mặc kệ huynh ấy lải nhải, chỉ đến phàm trần có một mình.

Ngày mùng ba tháng chín ba năm sau khi Dạ Hoa ra đi, ta ở phàm trần nghe kịch, gặp được một tiểu thần tiên tên là Chức Việt trên núi Phương Hồ. Ở trần gian nghe kịch thì phải tuân theo lệ của trần gian, cảm thấy diễn viên hát hay là phải tung tiền thưởng lên sân khấu, cũng coi như không phụ sự ân cần của kép hát.

Tiểu tiên Chức Việt có lẽ là lần đầu xuống trần gian xem kịch, thấy cảnh mọi người tung tiền rất sôi nổi, cũng muốn tung, nhưng hai ống tay áo lại trống không. Nàng ta vừa nhìn đã nhận ra tiên thân của ta, cười hì hì tự khai gia môn, mượn ta chút tiền để thưởng. Ta tuy cũng hơi thắc mắc sao nàng ta là tiểu thần tiên, đã có thể biến hóa, biến ra một hai xâu tiền chỉ là chuyện cỏn con, nhưng vẫn lấy mấy viên dạ mình châu đưa cho nàng ta. Sau này mới biết cha mẹ nàng ta sợ nàng ta xuống trần gian chơi gây họa, nên phải khóa tiên lực của nàng ta lại.

Vốn chỉ là cái duyên tình cờ, sau này mỗi lần xuống phàm trần xem kịch ta đều gặp nàng ta, cái duyên tình cờ này đã trở thành duyên phận lâu dài. Chức Việt nhanh nhẹn hoạt bát, lại không bám lấy ta hỏi han ta là ai, nhà ở đâu, bao nhiêu tuổi, khiến ta cảm thấy rất lạ. Nhưng khi nghe kịch có người nói chuyện, chẳng phải như tứ ca nói, “Muội nhìn những hàng chữ kịch bản nhấp nhô thò thụt này” thì cũng rất thú vị.

Cứ thế ta đã cùng nàng ta nghe mười vở kịch, nhẩm ngày cũng hai tháng có dư.

Hôm nay, ta vừa ngồi xuống nghe kịch, trên sân khấu sẽ diễn vở “Mẫu đơn đình”. Hôm nay chính là ngày mùng năm tháng mười, thích hợp cưới gả xuất hành, kỵ binh đao, ngày mà ba năm trước, Dạ Hoa đã bỏ ta mà đi. Ta nhấp một ngụm rượu, nhìn diễn viên mặc áo xanh trên sân khấu vung tay áo màu xanh múa rất đẹp mắt.

Lúc này, kịch bản sẽ hát đến câu: “Nàng đẹp như hoa như ngọc, thời gian như nước chảy, tìm kiếm bao phen, lại ở trong thâm khuê tự thương mình”, Chức Việt tiểu tiên mới lò dò đến, ngồi xuống bên cạnh ta.

Xem đến nửa chừng, nàng thì thào nói: “Nàng còn nhớ người anh họ kỳ tài, anh tuấn, tuổi trẻ bạc mệnh của ta không?”.

Ta gật đầu tỏ ý vẫn nhớ.

Tiểu tiên Chức Việt ngoài bàn về kịch với ta còn nhắc đến vị anh họ xa của mình. Theo như nàng ta nói, anh họ nàng ta anh minh thần vũ, là một nhân tài xuất chúng, nhưng thương thay mệnh lại bạc, tuổi trẻ chết nơi sa trường, ra đi để lại cha mẹ già con dại ngày đêm than khóc nhớ thương, đáng thương đáng thương. Mỗi lần nàng ta thốt ra hai tiếng “đáng thương”, trên mặt đều hiện lên vẻ bi thương vô hạn. Ta lại không cảm thấy cả nhà anh họ nàng có gì đáng thương, có lẽ gần đây ta đã nhìn thấu lẽ sinh tử.

Chức Việt rót một chén trà, uống một ngụm, nhìn quanh quất, rồi lại ghé miệng sang thì thào: “Anh họ của ta, ta đã từng kể với nàng là chết được ba năm rồi đúng không? Ba năm trước, cả tộc tưởng rằng huynh ấy chỉ còn tiên thể, nguyên thần đã tan thành tro bụi. Chúng ta làm một cỗ quan tài bằng băng đen chôn huynh ấy dưới biển, khi đó ta còn đi đưa tiễn. Hôm qua vùng biển vốn lặng sóng suốt mấy chục vạn năm bỗng dậy sóng ầm ầm, nâng cỗ quan tài bằng băng đen đó lên. Mọi người nói là nước biển dậy sóng là do tiên khí bao quanh cỗ quan tài. Nàng nói có lạ không, anh họ ta đã tiêu tan nguyên thần, lại có thể có nguồn tiên khí mạnh như vậy bảo vệ. Người trong cả tộc không ai hiểu là chuyện gì xảy ra, khi mấy đứa tiểu bối bọn ta đến, tộc trưởng đang sai một tiểu tiên đi mời một vị tôn thần trong tộc ta. Cha mẹ ta nói, không chừng anh họ ta vẫn chưa chết hẳn. À, nếu như huynh ấy chưa chết, nhóc A Ly sẽ không phải cả ngày khóc lóc nữa rồi”. Xung quanh bỗng lặng phắc như tờ, chén trà trong tay rơi xuống đất, “choang” một tiếng, ta nghe thấy tiếng mình vang lên khô khốc: “Vùng biển đó có phải là biển Vô Vọng không? Anh họ ngươi, anh họ ngươi có phải là thái tử Dạ Hoa không? Chàng là cháu trưởng của Thiên Quân trên Cửu Trùng Thiên – thái tử Dạ Hoa phải không?”.

Chức Việt lắp bắp ngẩn ra, đáp: “Sao, sao ngươi biết”.

Ta loạng choạng lao ra khỏi tòa lầu, khi lao ra đường mới nhớ ra lên Cửu Trùng Thiên phải cưỡi mây. Lại loạng choạng trèo lên mây, mắt vô tình lướt qua đám người phàm trần đang quỳ mọp dưới đất, mới nhớ ra mình đang đứng giữa chợ gọi mây.

Cưỡi mây đến lưng chừng trời, trời cao đất xa, phía dưới mịt mờ, đầu óc ta trống rỗng, cho dù thế nào cũng không nhớ ra đường đến Nam Thiên Môn. Càng cuống thì đầu óc càng trống rỗng, ta cưỡi mây quay đi trở về mấy lần, không biết phải làm thế nào.

Sểnh chân một cái, suýt chút nữa là rơi khỏi mây, may mà được một đôi tay giữ chặt lại. Giọng của Mặc Uyên vang lên phía sau: “Sao ngươi lại không cẩn thận như vậy, đến cưỡi mây mà cũng ngã ư?”.

Ta quay người níu chặt cổ tay người, nói: “Dạ Hoa đâu? Sư phụ, Dạ Hoa đâu?”.

Người cau mày, nói: “Lau nước mắt đi đã, ta đang tìm ngươi nói chuyện này đây”.

Mặc Uyên nói, năm xưa Phụ Thần dùng một nửa thần lực để làm tiên thai giúp Dạ Hoa đầu thai, sau khi Dạ Hoa đầu thai, thần lực đó vẫn luôn bên chàng, ẩn trong thần thức của chàng. Ba năm trước người không biết Dạ Hoa còn chém bốn con ác thú ở Doanh Châu, được một nửa thần lực còn lại của Phụ Thần, nên người mới tưởng không thể cứu chàng được. Có lẽ Dạ Hoa đem toàn bộ thần lực của Phụ Thần ra đấu với lực hủy diệt của chuông Đông Hoàng, nguyên thần bị hai lực này làm tổn hại một chút, nên mới rơi vào trạng thái ngủ say, tất cả mọi người mới tưởng chàng hồn bay phách tán, tan thành tro bụi. Đến chính bản thân Dạ Hoa, e rằng cũng nghĩ như vậy.

Mặc Uyên nói, giấc ngủ này của chàng đáng nhẽ phải kéo dài đến mấy chục năm, nhưng cỗ quan tài băng đen kia là một đồ vật tốt, biển Vô Vọng tuy là nghĩa địa của Thiên tộc, nhưng cũng là thánh địa để tu dưỡng, mới khiến Dạ Hoa chỉ mất ba năm đã tỉnh lại, thực sự bất ngờ.

Người nói những gì ta cũng không nghe thấy, chỉ chân thành lắng nghe người nói, Tiểu Thập Thất, Dạ Hoa về rồi, hắn vừa xuống Thanh Khâu tìm ngươi, ngươi mau quay về đi. Ta chưa bao giờ nghĩ rằng Dạ Hoa có thể sống lại. Tuy thầm cầu mong chàng quay về, nhưng lòng ta hiểu rõ, đó chỉ là hy vọng hão huyền. Ba năm trước chàng đã tan thành tro bụi rồi, dưới cây đào trước động Hồ Ly, còn chôn chiếc áo chàng mặc trước khi chết, chàng đã chết rồi. Khi lâm chung chàng còn bảo ta quên chàng, để ta sống tiêu dao tự tại. Nhưng, nhưng Mặc Uyên nói Dạ Hoa, chàng đã tỉnh lại, chàng không chết, chàng vẫn còn sống.

Ta cưỡi mây bay một mạch về Thanh Khâu, không cẩn thận còn ngã khỏi mây bốn lần.

Đi qua cửa cốc, ta dứt khoát hạ xuống đất, chạy thục mạng về động Hồ Ly. Một số tiểu tiên ven đường chào hỏi ta, ta cũng không hay biết, chỉ có chân tay run rẩy, sợ rằng không gặp được Dạ Hoa, sợ rằng những gì Mặc Uyên nói là lừa gạt.

Khi động Hồ Ly hiện ra trước mắt, ta gượm bước chậm lại. Đã lâu rồi không đi cổng chính, không ngờ cây đào trồng ở bên động ba năm trước đã nở hoa rực rỡ. Núi xanh xanh, cây xanh xanh, nước xanh xanh, ba năm qua, lần đầu tiên ta nhìn thấy vẻ đẹp của Thanh Khâu.

Dưới ánh sáng len qua mấy tầng mây chiếu rọi, cây hoa đào giữa non xanh nước biếc, giống như ráng chiều xán lạn sáng mãi trên Cửu Trùng Thiên.

Dưới bóng cây rực rỡ đó một thanh niên vận áo bào đen đang đứng, đang vươn người ra, những ngón tay thon dài khẽ sờ lên bia mộ trước mặt.

Giống như một giấc mơ.

Ta nín thở tiến lên hai bước, sợ động tác quá mạnh sẽ khiến cho cảnh tượng trước mặt biến mất.

Chàng quay đầu lại, gió nhẹ vờn qua, ráng chiều trên cây nhấp nhô như những làn sóng biển màu đỏ. Chàng mỉm cười, vẫn như dáng vẻ lần đầu gặp mặt, mày mắt như tranh vẽ, mái tóc đen nhánh. Trong sóng biển màu, vài cánh hoa đào chao liệng, giữa trời đất không có màu sắc nào khác, cũng không có âm thanh nào khác.

Chàng giơ tay, khẽ gọi: “Thiển Thiển, qua đây”.

HẾT CHÍNH VĂN.

05Feb/17

TAM SINH TAM THẾ – THẬP LÝ ĐÀO HOA – Hồi 22

Sau đèn Kết Phách, mối bi tình đó tới tới lui lui

Ta tìm Dạ Hoa trong hậu hoa viên của phủ Thượng thư.

Khi ta tìm đến, chàng vận thường phục bằng lụa màu đen, đang đứng nâng chén ngắm hoa đào cùng một người con gái vận đồ trắng. Ở chỗ chàng ngồi, phía trên là một cây hoa đào đang thắm sắc.

Người con gái vận đồ trắng ngồi đối diện chàng dường như nói câu gì đó, chàng nâng chén rượu trên bàn, cười rạng rỡ với người con gái ấy, người con gái đó lập tức thẹn thùng cúi đầu.

Nụ cười này của chàng vừa rạng rỡ vừa thân thiết, nhưng trong mắt ta lại cực kỳ gai mắt. Sáu ngày không gặp, chàng coi vật đính ước của ta là đồ bỏ, chẳng phải rước cho ta một món nợ tình tạp nham sao? Nỗi ghen tức xộc lên, ta đang định đi vào để xem xem ngọn nguồn thế nào, thì sau lưng vang lên một giọng nói: “Đã lâu không gặp thượng thần, Tố Cẩm xin được thỉnh an thượng thần ở đây”.

Ta sững sờ, quay người lại.

Phép ẩn thân chỉ là phép thuật che mắt, có thể che mắt người phàm chứ không thể che mắt thần tiên. Nhìn Tố Cẩm xiêm y giản dị trước mặt ta thấy không quen cho lắm, bèn hỏi: “Sao ngươi lại ở đây?”.

Nàng ta nhìn ta, đáp: “Quân thượng một mình lịch kiếp dưới trần gian, Tố Cẩm sợ quân thượng cô đơn, nên cố ý làm một người quân thượng nhung nhớ, sắp đặt ở bên cạnh chàng. Hôm nay Tây Vương Mẫu mở hội trà, Tố Cẩm cũng được thiếp mời, tiện đường qua đây, nên xuống thăm người Tố Cẩm làm cho quân thượng, xem nàng ta có hầu hạ quân thượng chu đáo hay không?”.

Ta quay lại nhìn người con gái áo trắng đang đứng bên Dạ Hoa. Vừa nãy không để ý, bây giờ nhìn lại, quả nhiên người con gái đó chỉ là một con rối đội da người. Ta lấy chiếc quạt ra, lạnh lùng buông một câu: “Chu đáo quá”.

Nàng ta nhìn ta ân cần, nói: “Thượng thần có biết Tố Cẩm làm con rối theo mẫu của ai không?”.

Ta nghiêng đầu nhìn dò xét, nhưng không cảm thấy gương mặt của người con gái áo trắng kia có điểm gì đặc biệt.

Ánh mắt nàng ta trở nên xa xăm: “Thượng thần có bao giờ nghe tới cái tên Tố Tố không?”.

Lòng ta run rẩy. Tiểu thần tiên Tố Cẩm gần đây quả có tiến bộ, vừa mới gặp đã có thể xéo đúng lên nỗi đau của ta. Sao ta lại không biết mẫu thân đã nhảy xuống Tru Tiên đài của cục bột, phu nhân trước mà Dạ Hoa hết lòng yêu thương tên là gì chứ. Nhưng từ sau khi ta khám phá ra tình cảm của mình dành cho Dạ Hoa, thì đã gói ghém tất cả tin đồn về mẫu thân của cục bột nhỏ, vứt vào trong hòm, khóa ba tầng khóa, thề rằng sẽ không bao giờ mở hòm ra, để bản thân khỏi phải tự tìm đau khổ. Ta không phải là người đầu tiên Dạ Hoa yêu, mỗi lần nhớ ra lại càng nuối tiếc, đau đớn. Nhưng số phận đã như vậy, ta cũng không hề oán trách, chỉ có thể thở dài than rằng số không may, đường tình trắc trở mà thôi.

Tố Cẩm liếc nhìn thần sắc của ta, nói: “Thượng thần không cần phải lo lắng đâu, bây giờ quân thượng chỉ là một người phàm trần, mới không nhận ra người trước mặt chàng chỉ là một con rối, có thể tác thành, khiến giấc mộng mà lòng chàng khao khát trở thành hiện thực. Đợi quân thượng quay về chính thân, cho dù con rối đó có mang gương mặt của Tố Tố, thì theo tính cách của quân thượng, sao có thể quan tâm đến một con rối chứ?”.

Có phải nàng ta đang muốn nói cho ta hay, bây giờ Dạ Hoa đã rất quan tâm tới con rối này không?

Ta cười ha ha, nói: “Ngươi không sợ sau khi Dạ Hoa trở về chính thân, nhớ ra chuyện ngươi đã lừa chàng, sẽ trách tội ngươi sao?”.

Nét mặt nàng ta cứng đờ, gượng cười đáp: “Tố Cẩm chẳng qua chỉ làm một con rối, đặt ở trên đường trước cửa phủ của quân thượng, nếu quân thượng không có ý với nó, thì hai người cũng chỉ là vô duyên thôi. Nhưng quân thượng vừa nhìn đã yêu mến, đưa nó về phủ. Nếu đến lúc đó quân thượng trách tội Tố Cẩm, Tố Cẩm cũng đành chịu”.

Lồng ngực ta căng tức, chỉ mân mê chiếc quạt không nói gì.

Nàng ta lại nở nụ cười dịu dàng, nói: “Có thể thấy, nếu đúng là yêu một người đến khắc cốt ghi tâm, thì dù uống nước Vong Xuyên của U Minh Ti Minh Chủ, cũng vẫn có ấn tượng, đầu thai rồi vẫn yêu người đó. Đúng rồi”, nàng ta ngưng lại giây lát, thong thả nói tiếp, “Thượng thần có biết, ba trăm năm nay, quân thượng luôn chong đèn Kết Phách để tập hợp khí trạch của Tố Tố không?”.

Trong đầu ta bỗng ầm một tiếng, khiến ta không phân biệt nổi phương hướng, lồng ngực căng tức, cồn cào.

Chàng, Dạ Hoa trước đây định tái tạo một Tố Tố sao?

Cái đêm của sáu hôm trước, khi ta ngồi bên cạnh giường Dạ Hoa, chàng còn không nhận ra ta, chàng nói không nhận ra. Sáu năm sau, chàng lại dẫn một người con gái không quen biết về nhà. Quả đúng là chàng yêu ta chẳng sâu sắc bằng chàng yêu Tố Tố khi xưa, nên mới không nhận ra ta. Hoặc giả, hoặc giả, chiếc hòm có ba lần khóa kia đã mở ra, hoặc là chỉ vì khi ta băng mắt có vài phần giống với phu nhân trước, nên Dạ Hoa mới dần dần yêu ta? Đầu óc rối loạn, ngực đau căng tức, tim ta nhói buốt.

Nhưng dù đầu óc hỗn loạn, ta vẫn khâm phục bản thân, ra vẻ thượng thần rất đạt, ta ung dung nói: “Ngươi quả am hiểu chuyện ái tình, đúng là am hiểu như thế mới có thể chịu đựng được sự coi thường của Dạ Hoa, còn có thể làm thứ phi của chàng suốt hơn hai trăm năm. Trong đám tiểu bối bây giờ, ngươi có thể coi là một kẻ có tầm nhìn, con rối ngươi làm rất tinh xảo, để nó bên Dạ Hoa cũng tốt, đỡ cho bản thượng thần phải nhọc công. Sau này nếu Dạ Hoa có trách ngươi gạt chàng, bản thượng thần sẽ nói đỡ cho ngươi”.

Nụ cười của nàng ta đông cứng trên gương mặt, mãi sau mới khóe môi, nói: “Đa tạ thượng thần”.

Ta giơ tay xua xua, nói: “Để lỡ hội trà của Tây Vương Mẫu thì không hay đâu”.

Nàng ta cúi đầu quỳ gối: “Vậy Tố Cẩm xin lui trước”.

Tố Cẩm đi rồi, ta quay đầu lại nhìn, con rối đó đang cùng Dạ Hoa uống rượu. Mấy cánh hoa đào nương theo gió rụng xuống, bay lả tả, vương trên tóc Dạ Hoa. Con rối đó giơ bàn tay trắng như ngọc như ngà, phẩy nhẹ một cái, mấy cánh hoa đào rớt xuống đấy. Nó ngẩng đầu lên nhìn Dạ Hoa cười thẹn thùng, Dạ Hoa không nói gì, uống cạn chén rượu. Đầu ta đột nhiên đau buốt.

Tứ ca hay nói, ta chẳng chịu suy nghĩ, luôn tùy ý hành động, may mà cha mẹ ta giỏi giang, ta mới không phải thiệt thòi, nhưng ta cũng không ít lần làm mất thể diện tộc Cửu Vỹ Bạch Hồ nhà ta. Cố nhiên ta cảm thấy huynh ấy còn làm nhiều chuyện mất thể diện hơn ta, nhưng niệm tình huynh ấy lớn hơn ta, nên ta cũng nhường huynh ấy.

Giờ đây, ta mới thấy huynh ấy nói có lý. Ta hành động hết sức tùy ý, không hề suy nghĩ. Ví dụ như lúc ban đầu Dạ Hoa bày tỏ với ta, chàng nói chàng thích ta, chàng nói còn ta nghe, nhưng chưa bao giờ nghĩ rằng trong toàn thể nữ thần của bốn bể tám cõi, sao chàng chỉ yêu mình ta, cho dù sau này ta cũng yêu chàng, hai bên tình nồng ý đượm, cũng không hề hỏi chàng chuyện quan trọng này. Nếu như chàng thực sự vì mẫu thân của cục bột nhỏ mới thích ta, thì người thế thân Bạch Thiển ta với con rối đang uống rượu với chàng kia, đâu có gì khác nhau. Tuy cũng biết rằng so đo với người đã mất là hẹp hòi, nhưng tình yêu lại thực sự không thể tính tới thể diện hay độ lượng được.

Ngọn lửa ghen tuông ngùn ngụt, ta day day góc trán, cảm thấy lúc này nên ngẫm nghĩ kỹ một số chuyện về Dạ Hoa, bèn bắt quyết gọi một đám mây, rồi lú lú lẫn lẫn bay về Thanh Khâu.

Tối nay, ta đem đèn Kết Phách ra ngắm nghía dưới ánh sáng của viên dạ minh châu. Chiếc đèn này luôn đặt ở chỗ Tây Hải đại hoàng tử để giúp y dưỡng thần, sau khi Mặc Uyên tỉnh lại đã được Chiết Nhan lấy về và đặt ở Thanh Khâu. Lúc trên Cửu Trùng Thiên, Dạ Hoa không hỏi tới, còn ta cũng quên đem trả.

Dưới ánh sáng trắng của viên dạ minh châu, cây đèn Kết Phách ấy khêu lên một ngọn lửa nho nhỏ bằng hạt đậu, trông chẳng có gì đặc biệt cả. Đâu có ai ngờ, trong cây đèn không có gì đặc biệt này lại chứa khí trạch ba trăm năm của một người phàm.

Ta càng nghĩ lòng càng chùng xuống, lời của Tố Cẩm tuy không thể tin hoàn toàn, nhưng còn lời của tiểu tiên nữ Nại Nại trên Thiên Đình làm chứng, bây giờ ta đã rảnh rỗi để chắp ghép từng chuyện lại, ba trăm nay quả nhiên Dạ Hoa tình sâu như biển với mẫu thân của cục bột nhỏ. Một người nặng tình như chàng, một mối tình sâu như biển ấy, sao chỉ mới ba trăm năm mà đã có thể tan thành mây khói được, sao có thể vừa nhìn thấy bản thượng thần là lập tức thay đổi tình cảm được đây?

Ta càng nghĩ càng cảm thấy ngọn lửa ghen tuông trong lòng bốc lên ngùn ngụt, lan đến tim phổi, cháy bùng lên. Ta yêu Dạ Hoa vì chính con người chàng, nếu như chàng có tướng mạo giống với sư phụ Mặc Uyên, ta cũng chưa bao giờ coi chàng là Mặc Uyên, dù chỉ là một khắc. Nếu như ta coi chàng là thế thân của Mặc Uyên, thì e rằng mỗi lần nhìn thấy chàng ta đều cung kính thưa hỏi, không dám khinh nhờn một chút nào.

Ta đã yêu chàng như vậy, nên cũng mong chàng đối xử lại với ta như thế. Nếu như vì ta giống mẫu thân của cục bột nhỏ, mà chàng lại không nguôi thương nhớ mẫu thân của cục bột nhỏ nên mới chuyển sang ta, thì Bạch Thiển ta không thể nhận sự yêu mến này của chàng.

Mê Cốc đứng bên ngoài khẽ giọng gọi: “Cô Cô, có cần ta dâng ít rượu lên không?”.

Ta im lặng đồng ý.

Rượu mà Mê Cốc dâng lên đều là rượu mới nấu, hơi cay nồng còn chưa được êm lắng, đi vào trong miệng, họng lập tức cay xè, đầu óc ta càng trở nên choáng váng hơn. Có lẽ hôm nay Mê Cốc thấy ta có tâm sự, nên mới cố ý chọn ra loại rượu mạnh này, hễ được lệnh là đem vào trong phòng ta.

Ta uống tới mức một cây đèn Kết Phách trước mắt biến thành mười cây, cảm thấy uống khá say, mới đứng dậy loạng choạng đi ngủ. Mơ mơ màng màng nhưng không ngủ được, luôn cảm thấy trên bàn có thứ gì đang tỏa sáng, rất chói mắt, chẳng trách ngủ không được. Ta ngồi bên mép giường, nheo mắt nhìn, hóa ra là một ngọn đèn. A, có lẽ là cái đèn Kết, kết gì đó…

Ta nghĩ mãi mà không nghĩ ra.

Ngọn đèn đó chiếu sáng khiến trái tim người ta rối bời, toàn thân ta mềm nhũn không bò nổi dậy, cứ ngồi cách bảy, tám bước mà thổi ngọn đèn trên bàn, thổi mãi mà không tắt, muốn dùng pháp thuật để tắt đèn nhưng nhất thời chẳng nhớ nổi một phép thuật nào để thổi tắt đèn cả. Ta rên rỉ một tiếng “đen đủi”, dứt khoát bắt quyết chĩa về phía chiếc đèn Kết gì đó, “choang” một tiếng, ngọn đèn đó hình như vỡ tan. Cũng tốt, ngọn lửa trong đèn đã tắt rồi.

Sau cơn giày vò ấy, trời đất quay mòng mòng, ta lập tức ngã xuống giường ngủ say như chết.

Ta ngủ li bì hai ngày liền, khi ngủ cũng nhớ ra rất nhiều chuyện cũ.

Hóa ra năm trăm năm trước, Kình Thương phá vỡ chuông Đông Hoàng, sau khi ta cố gắng nhốt hắn vào trong, chẳng hề giống như cha mẹ ta vẫn nói là ngủ liền hai trăm mười hai năm trong động Hồ Ly, mà bị Kình Thương gieo một phong ấn trong người, rơi xuống núi Tuấn Tật ở Đông Hoang.

Cái gì mà Tố Tố, cái gì mà mẫu thân của cục bột nhỏ, cái gì mà người phàm nhảy xuống Tru Tiên đài, đó căn bản đều là bản thượng thần ta – khi ấy vẫn còn vô năng, vô tri.

Ta còn thắc mắc là lúc thăng lên làm thượng thần, mình đã lịch kiếp như thế nào, chẳng qua đánh với Kình Thương một trận, ngủ vỏn vẹn có hai trăm mười hai năm, rồi trong giấc mộng say lại được thăng làm thượng thần. Ba trăm năm trước trong động Hồ Ly, khi tỉnh dậy, ta mắt chữ O miệng chữ A nhìn nguyên thần của mình từ ánh sáng bạc chuyển thành ánh sáng vàng lấp lánh, còn tưởng rằng ông trời ưu ái ta, cảm kích đến mức cảm thấy ông trời quá nhân từ.

Ta đâu biết, trận đánh với Kình Thương kia chỉ là một ngòi nổ, mà kiếp nạn ta phải trải qua để được thăng làm thượng thần, lại chính là tình kiếp. Ta phải hy sinh trái tim không nói, mà còn phải hy sinh cả đôi mắt. Nếu không phải Kình Thương phong ấn tiên nguyên của ta, thì nhảy xuống Tru Tiên đài ta còn phải hy sinh toàn bộ tu vi. Ông trời hành sự chẳng hồ đồ chút nào, nhân từ, nhân từ, ông ta nhân từ cái cóc khô ấy.

Ta đã hiểu vì sao khi ở Thanh Khâu, Dạ Hoa ngập ngừng muốn nói rồi lại thôi; hiểu được cái đêm ở quán trọ dưới trần gian, cái câu “Ta mong nàng nhớ ra, lại mong nàng vĩnh viễn không nhớ” ta nghe được trong lúc mơ màng hoàn toàn không phải là ta ngủ mơ; tất cả đều có trước có sau, là năm đó Dạ Hoa đã để ta chịu oan, chàng cảm thấy có lỗi với ta. E là chàng mãi mãi không bao giờ hiểu được tại sao ta lại đặt tên cho cục bột là A Ly, mãi mãi không hiểu được tại sao ta phải nhảy xuống Tru Tiên đài.

Chuyện cũ lần lượt ào về như thác đổ, nỗi đau kéo dài suốt ba năm đó của ba trăm năm về trước mới như ngày hôm qua, cái gì là đại nghĩa, cái gì là đạo lý, cái gì là bảo vệ sự an toàn cho một người phàm như ta mà không thể không làm với không thể làm, đêm đêm một mình vò võ trong “Nhất Lãm Phương Hoa”, từng tia hy vọng nhỏ nhoi bị bóp nghẹt. Tình cảm ấy ào ạt chảy về, ta cảm thấy cõi lòng bi thương vô tận. Ba năm đó, bản thượng thân sống vô dụng biết bao, đau đớn biết bao.

Ta cảm thấy với tâm trạng của mình giờ đây, nếu thành thân với Dạ Hoa vào tháng mười, e rằng hơi khó. Ta biết rằng mình vẫn còn yêu chàng. Ba trăm năm trước ta bị chàng mê hoặc đến mức đầu óc choáng váng; ba trăm năm sau lại bị chàng mê hoặc đến mức đầu óc mụ mẫm; đây là oan nghiệt. Ta không thể ngăn được mình yêu chàng, nhưng nghĩ đến chuyện ba trăm năm trước, trái tim yêu chàng như trồi lên một cái nhọt, cái nhọt này lại chẳng thể tiêu tan. Thế nên, ta cũng chẳng thể tha thứ cho chàng.

Mê Cốc bưng nước vào trong phòng cho ta rửa mặt, nhìn ta một lúc, lão nói: “Cô cô, có cần ta đi lấy thêm chút rượu nữa không?”.

Ta giơ tay sờ lên mặt, mới phát hiện nước mắt đẫm tay mình.

Mê Cốc dâng rượu lên thật. Bữa trước ta uống bảy, tám vò, cứ tưởng đã uống hết sạch rượu tứ ca cất giữ, Mê Cốc vẫn còn có thể dâng thêm năm, sáu vò, chứng tỏ trong gian nhà tranh của lão cất giữ không ít rượu.

Mỗi khi ta uống say thì sẽ ngủ, tỉnh lại uống, lại say rồi lại ngủ, cứ lặp lại một cách đơn điệu như vậy ba, bốn ngày. Đến chạng vạng tối ngày thứ năm thì tỉnh, Mê Cốc đang ngồi trong phòng ta, nói: “Cô cô lo lắng đến bản thân một chút đi, trong động không còn rượu để mang lên nữa rồi”.

Mê Cốc quá lo, bản thân ta đâu cần lo lắng gì, chỉ là mệt mỏi quá thôi, không vô dụng như Phượng Cửu, thất tình uống tí rượu vào là say đến nỗi ói mật xanh mật vàng. Qua lần tôi luyện này, tửu lượng của ta còn tăng tiến không ít.

Không có men rượu mạnh, đầu ta lại tỉnh táo trở lại. Đầu óc tỉnh táo khiến ta nhớ một chuyện quan trọng mà dù thế nào cũng không thể quên. Đôi mắt của ta đang sống trong hốc mắt của Tố Cẩm, nên đòi nó trở về rồi.

Khi đó ta trải qua tình kiếp, bị Tố Cẩm nhân cướp mất đôi mắt. Bây giờ ta đã lịch kiếp xong, đôi mắt ta vẫn để trong hốc mắt nàng ta là không được, nàng ta nuôi đôi mắt của ta hẳn cũng thấy không tự nhiên.

Chọn ngày chẳng bằng gặp ngày, ta gọi quạt Côn Luân đến, soi gương chỉnh sửa lại dung nhan. Haizz, sắc mặt ta nhìn không tốt lắm, để không mất thể diện của Thanh Khâu, ta đành lấy hộp phấn ra, thoa ít phấn lên.

Mặt mày rạng rỡ, ta lên Cửu Trùng Thiên, ta bắt quyết, dễ dàng lách qua đám thiên binh thiên tướng canh Nam Thiên Môn, đi thẳng một mạch đến điện Sướng Hòa của Tố Cẩm nằm trong khuôn viên Tẩy Ngô cung.

Nàng “mẫu mực” quả rất biết hưởng phúc, nàng ta đang nằm trên giường quý phi an nhàn nhắm mắt dưỡng thần.

Ta hiện thân, một tiên nga thị tỳ vừa bước vào điện trông thấy đã kêu “á” một tiếng. “Mẫu mực” liền mở choàng mắt, nhìn thấy ta thì sững người, miệng vẫn giả lả: “Thượng thần giá đáo, Tố Cẩm vô cùng sợ hãi”. Động tác trở mình xuống giường lại cực kỳ chậm rãi, bình thản thong dong, quả là “vô cùng sợ hãi”.

Ta ngồi một bên. Nàng ta ra vẻ tươi cười, cởi mở, nói; “Tố Cẩm đoán thánh ý của thượng thần, có lẽ là đến để hỏi thăm tình hình gần đây của quân thượng. Nếu nói đến quân thượng”, ngừng lại một lát, lại cười vẻ vô cùng cởi mở, “Tố Tố ở trần gian kia, vẫn sống cùng quân thượng rất vui vẻ, chăm sóc quân thượng rất chu đáo”.

Nụ cười làm nền cho đôi mắt sáng lấp lánh trên gương mặt, ta sờ lên mặt chiếc quạt, ra vẻ ung dung, nói: “Nếu như thế này, tự nhiên là tốt nhất. Dạ Hoa đã có ngươi chăm sóc, ta cũng an tâm, còn hôm nay, ta lại muốn quan tâm tới ngươi một chút”.

Nàng ta nghi hoặc nhìn ta.

Ta cười đoan trang: “Tố Cẩm, ngươi dùng đôi mắt của bản thượng thần đã ba trăm năm, dùng có tốt không?”.

Nàng ta ngẩng phắt đầu, máu trên khuôn mặt từ đỏ chuyển sang hồng nhạt, từ hồng nhạt chuyển sang trắng bệch, trong nháy mắt đổi ba màu, cực kỳ thú vị. Nàng ta nói với giọng run rẩy: “Vừa nãy ngươi, ngươi nói gì?”.

Ta xòe quạt, cười đáp: “Ba trăm năm trước bản thượng thần trải qua tình kiếp, đã đánh mất đôi mắt vào tay ngươi, hôm nay nhớ ra chuyện này, nên cố ý tới đây đòi. Theo ngươi, tự ngươi động thủ hay là bản thượng thần đích thân động thủ?”.

Nàng ta lùi về sau hai bước, va ngay vào thành giường quý phi đằng sau, nhưng dường như không hề hay biết, miệng lắp bắp: “Ngươi là, ngươi là Tố Tố?”.

Ta không bình tĩnh được nữa, xòe quạt: “Rốt cuộc là ngươi đích thân móc trả hay là bản thượng thần móc giúp ngươi?”.

Đôi mắt nàng ta thất thần, tay vặn xoắn tà áo, há miệng mấy lần, nhưng không nói được một câu hoàn chỉnh nào, như cười như khóc, nói: “Người đó, người đó rõ ràng chỉ là một người phàm, sao lại là ngươi, ả rõ ràng là một người phàm”.

Ta bước tới, rót một chén trà đặc còn bốc khói nghi ngút trên bàn, ngạc nhiên nói: “Một người phàm thì sao, một thượng thần thì sao nào? Chỉ vì ba trăm năm trước ta hóa thành một người phàm, yếu ớt vô dụng, một tiểu thần tiên như ngươi có thể đoạt đôi mắt của ta, lừa ta nhảy xuống Tru Tiên đài được sao?”.

Chân nàng ta mềm nhũn, loạng choạng ngã xuống, cứ lắp bắp “ta, ta” hồi lâu mà không nói được câu gì biện hộ.

Ta bước tới, đưa tay sờ lên hốc mắt của nàng ta, dịu dàng nói: “Gần đây bản thượng thần có chuyện vui, uống mấy vò rượu, tay hơi run, động thủ có lẽ sẽ đau hơn ngươi tự làm, ngươi thông cảm nhé!”.

Tay ta còn chưa hạ xuống, nàng ta đã kêu thét thất thanh. Ta vung tay phóng ra một đạo tiên chướng trùm lên trước điện Sướng Hòa, đảm bảo cho dù đám tiểu tiên đồng, tiểu cung nga có nghe thấy tiếng kêu của nàng ta cũng không vào trong được.

Ánh mắt nàng ta đã rối loạn, hai tay giữ chặt lấy tay ta, nói: “Ngươi không thể, ngươi không thể…”.

Ta buồn cười, vỗ nhẹ lên mặt nàng ta: “Ba trăm năm trước ngươi thích giả vờ yếu đuối, lúc nào ta gặp ngươi, ngươi cũng giả vờ yếu đuối, không thể để bản thượng thần mở mắt, nhìn xem lúc ngươi không yếu đuối trông thế nào? Lúc Dạ Hoa móc đôi mắt của ta nói nợ người ta cuối cùng vẫn phải trả, khi đó đôi mắt của ngươi sao lại không có, hai chúng ta đều hiểu rõ. Đôi mắt của ta sao lại lọt vào hốc mắt ngươi, hai chúng ta cũng đều hiểu rõ. Ngươi nói xem, tại sao ta không thể lấy lại đôi mắt của mình, lẽ nào đôi mắt của ta nằm trong hốc mắt của ngươi ba trăm năm, thì sẽ biến thành của ngươi sao?”.

Dứt lời ta ra tay dứt khoát, nàng ta kêu lên thảm thiết. Ta ghé tai nàng ta thì thầm: “Chuyện ba trăm năm trước, Thiên Quân âm thầm làm, chuyện hôm nay, ta cũng âm thầm làm. Khi xưa ngươi nợ ta hai món nợ, một là đôi mắt, hai là Tru Tiên đài. Món nợ hôm nay coi như ta đã bắt ngươi trả. Món nợ Tru Tiên đài, hoặc là ngươi đường hoàng nhảy xuống một lần, hoặc là ngươi nói với Thiên Quân, dùng tiên lực bé mọn của ngươi đến nhà lao ở bến Nhược Thủy canh chừng chuông Đông Hoàng nhốt Kình Thương, vĩnh viễn không lên trời nữa”.

Toàn thân nàng ta co rúm, có lẽ rất đau đớn. Nỗi đau này ta cũng từng trải qua, nên cũng đoán ra. Nàng ta đau đến mức không thể thở nổi, nhưng vẫn bướng bỉnh nhả ra ba tiếng: “Ta… quyết… không…”.

Không sai, không giả vờ yếu đuối với ta, cố gắng cứng rắn một lần. Ta nâng cao khuôn mặt đẫm máu của nàng ta lên, cười nói: “Ô? Vậy là ngươi muốn bản thượng thần đích thân đi nói với Thiên Quân. Nhưng con người ta xưa nay lúc này nói một đằng, lúc khác lại nói một nẻo. Nếu để ta đến nói với Thiên Quân, không biết lúc đó ta có nói như bây giờ không nữa”.

Cơ thể nàng ta cứng đờ, rồi tiếp tục đau đớn cuộn tròn lại. Ta thầm niệm một câu kinh Phật, thiện ác quả báo, đạo trời luân hồi.

Tất Phương lại đi mất, tứ ca lại đi tìm hắn. Trong rừng đào mười dặm chỉ còn một mình Chiết Nhan.

Khi ta đưa đôi mắt còn đẫm máu trong tay cho Chiết Nhan, lão kinh ngạc tột độ, đem ra soi xét cẩn thận rất lâu dưới ánh mặt trời, nói: “Đôi mắt bị trộm ba trăm năm vẫn có thể tìm lại được, thật là chuyện lạ”, rồi lại nói, “Ngươi đã uống thuốc của ta, giờ lại nhớ ra quá khứ đau thương khi trước, cũng là chuyện lạ”.

Đôi mắt này được lấy ra từ một tiên thể chưa đến bảy bảy bốn mươi chín ngày, nếu không thì chỉ có nước bỏ đi. Chiết Nhan cảm thấy lạ lùng, có lẽ lão tưởng đôi mắt ta mất hẳn, chẳng ngờ lại được đặt trên khuôn mặt của người khác, đến hôm nay mang đôi mắt này về, còn có thể đặt lại vào hốc mắt ta.

Ta gượng cười một cái.

Lão liếc nhìn thần sắc trên mặt ta, hẳn cũng đoán rằng ta không muốn nhắc lại chuyện cũ, nên cũng rất hiểu ý ho hai tiếng, không hỏi nhiều nữa.

Chiết Nhan nói lão cần mấy ngày để loại trừ hết những tạp khí trên đôi mắt này, sau đó mới thay mắt cho ta. Ta vui vẻ nhận lời, rồi nhân thể vòng ra sau núi đào mấy bình rượu lên, cưỡi mây bay về Thanh Khâu.

Cứ thế lại uống say mèm mấy ngày. Ta dặn Mê Cốc giúp ta để ý động tĩnh thứ phi của thái tử trên Cửu Trùng Thiên, mấy ngày này đóng cửa Thanh Khâu, ta không gặp ai cả. Rượu Chiết Nhan cất, quả nhiên ngon hơn rượu do Mê Cốc tích trữ rất nhiều, hôm qua say còn nôn ra dịch mật, đầu đau đến mức muốn cầm kiếm xuyên qua huyệt Thái Dương từ bên trái sang bên phải. Nhưng như thế cũng tốt, hễ nhắm mắt là trời xoay mòng mòng, sẽ không còn thời gian mà đi nhớ đến chuyện khác nữa.

Mê Cốc khuyên ta nên uống chậm lại, tạm thời không say rượu trong một, hai ngày, mà nên giữ gìn sức khỏe.

Nhưng lần này hoàn toàn khác với nỗi đau lòng trong quá khứ, hễ không say là ta không thể chợp mắt.

Khi ta say túy lúy thì chẳng biết trời trăng gì, nhưng nếu không say mèm, thì vẫn láng máng nhớ Mê Cốc thường nói chuyện với ta. Lão nói rất nhiều, đại khái là những chuyện không quan trọng. Có hai chuyện mà ta vẫn nhớ rất rõ, một là thứ phi thái tử trên Cửu Trùng Thiên mà ta rất để ý không hiểu sao cuối cùng cũng ngộ ra, dâng thư lên Thiên Quân, cam tâm tình nguyện xin rút khỏi Tiên tộc, đến bến Nhược Thủy vừa tu hành vừa giữ chuông Đông Hoàng. Thiên Quân cảm động trước ý tốt của nàng ta, bèn phê chuẩn; một chuyện nữa là thái tử Dạ Hoa lịch kiếp dưới trần gian, vốn đã uống nước Vong Xuyên không còn nhớ chuyện cũ, nhưng lại tin quỷ thần, dốc cả đời đi tìm tiên cảnh Thanh Khâu, tuy làm quan đến chức tể tướng nhưng suốt đời không lấy vợ, năm hai mươi bảy tuổi u uất bệnh mà chết, trăn trối người nhà đem thi thể hỏa táng, hợp táng với chuỗi ngọc thường đeo bên mình.

Ta không biết lúc Mê Cốc nói chuyện đó ta có rơi lệ hay không. Nếu như ta thực sự rơi lệ, thì vì sao lại rơi lệ chứ? Ta uống rất nhiều, đầu óc trở nên chậm chạp, nghĩ mãi mà không ra.

Qua mấy ngày, Mê Cốc hớt hơ hớt hải chạy vào động Hồ Ly, báo tin cho ta. Nghe nói thái tử điện hạ Dạ Hoa Quân trên Cửu Trùng Thiên, đã đợi bên ngoài cửa cốc Thanh Khâu bảy ngày, chàng muốn gặp ta.

Mê Cốc nói lão làm theo lệnh của cô cô, không dám cho bất cứ ai vào cốc, cho dù là Dạ Hoa cũng không dám cho vào. Nhưng bảy ngày trôi qua, Dạ Hoa vẫn chưa có ý muốn rời đi, lão không thể tự ý, nên đành đi vào thông báo với ta, xem ý ta ra sao.

Đầu óc ta cuối cùng cũng tỉnh táo lại.

A, Dạ Hoa ở trần gian hai mươi bảy tuổi đã tạ thế, hai nắm đất vàng chôn cất, đương nhiên sẽ trở chính thân.

Không hiểu tại sao, trong lòng đột nhiên nhói đau. Ta ôm tim, trượt theo chân bàn quỵ xuống, Mê Cốc định đỡ dậy, ta cản lão lại.

Dựa vào chân bàn, ta ngước nhìn xà nhà. Ta muốn gặp Dạ Hoa.

Ta muốn hỏi chàng ba trăm năm trước, vì Tố Cẩm phản bội chàng lấy Thiên Quân, nên chàng đau lòng, mới cắn răng lấy một người phàm trần không?

Chàng có thật lòng yêu ta không? Chàng để ta vò võ ba năm trong Thiên Cung lạnh lẽo, là vì muốn tốt cho ta sao? Khi chàng yêu ta, có phải vẫn yêu Tố Cẩm không? Nếu như yêu, vậy thì yêu sâu đậm bao nhiêu? Nếu như không phải ta bị lừa nhảy xuống Tru Tiên đài, có phải chàng sẽ cam tâm tình nguyện lấy Tố Cẩm không? Bây giờ chàng tỏ ra tình sâu nghĩa nặng với ta, có phải vì hối hận chuyện ba trăm năm trước không?

Càng nghĩ lại càng không muốn tiếp tục nghĩ nữa. Ta đưa tay che mắt, nước mắt trào qua kẽ tay. Nếu như chàng nói là “đúng” thì sao? Nếu như chàng nói toàn bộ là “đúng” thì sao?

Ta không biết mình có nên tự tay giết chàng không.

Mê Cốc đứng bên lo lắng nói: “Cô cô, gặp hay không gặp đây?”.

Ta thở dài, nói: “Không gặp. Nói với chàng rằng, chàng không cần đến Thanh Khâu nữa. Ngày mai ta sẽ tìm Thiên Quân từ hôn”.

Lúc lâu sau, Mê Cốc quay về, im lặng một lát mới nói: “Thái tử điện hạ, thần sắc của người rất xấu. Người đứng ở cửa cốc đã bảy ngày, một bước cũng không rời”.

Ta liếc lão một cái, tợp một ngụm rượu, không đáp lại.

Lão ngần ngừ rồi thưa: “Thái tử điện hạ nhờ ta chuyển lời tới cô cô. Người muốn hỏi cô cô, ban đầu cô cô nói, nếu khi ở trần gian người có vướng phải hoa đào, thì cô cô sẽ trói người mang về nhốt ở Thanh Khâu. Khi ở trần gian, ngoài mang một thị nữ có dáng vẻ giống cô cô lúc là người phàm, để hầu hạ mẫu thân bị bệnh ra, thì nửa đóa hoa đào ngài cũng chưa vướng bận, lúc đầu cô cô đã hứa với ngài, sao giờ lại không tính?”.

Ta hất bình rượu, quát to: “Không tính, cái gì cũng không tính, cút, ngươi bảo hắn cút đi, ta không muốn nhìn mặt hắn”.

Lòng đau như cắt, ta biết rằng không phải mình không muốn gặp chàng, chỉ là trong lòng có nút thắt, không biết phải gặp chàng ra sao.

Ngày thứ hai, ta vẫn chưa lên Cửu Trùng Thiên từ hôn, chỉ cảm thấy tạm gác lại đã, đợi khi nào tâm trạng thoải mái thì sẽ đi. Nhưng trong một thời gian ngắn, sợ rằng tâm trạng khó mà thoải mái được.

Ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, Mê Cốc nói Dạ Hoa vẫn đứng ở cửa cốc, không rời nửa bước. Ta nói với lão, nếu còn nhắc đến cái tên Dạ Hoa, thì sẽ đánh cho lão hiện nguyên hình là cây Mê Cốc một vạn tám nghìn năm trước, cuối cùng lão cũng ngậm miệng lại.

Ta không sao uống rượu được nữa. Vì từ khi biết Dạ Hoa đang đứng bên ngoài Thanh Khâu, mỗi lần uống, càng uống ta lại càng tỉnh, càng tỉnh lại càng đau lòng, càng đau lòng lại càng khó ngủ.

Mưa tí tách cả đêm, vì tinh thần ta rệu rã, nên trời vừa hửng sáng đã tỉnh dậy, cảm thấy mấy thành tiên lực dùng để phong ấn Kình Thương trên chuông Đông Hoàng năm trăm năm trước bị chấn động mạnh.

Tim ta nhói đau. Quả là mùa thu đa sự, gần đây hết việc này đến việc kia kéo đến, đúng không uổng danh hiệu “phiền não nhất là tiết sang thu”. Có lẽ, Quỷ Quân đời trước Kình Thương công đức đã viên mãn, sắp phá chuông Đông Hoàng mà ra rồi.

Ta vội vàng rửa mặt, sai Mê Cốc gấp rút đi rừng đào mười dặm chuyển lời đến Chiết Nhan, nhờ lão đến giúp ta một tay.

Năm trăm năm trước, khi lần đầu tiên Kình Thường phá vỡ chuông Đông Hoàng, ta cố gắng lắm mới có thể chặn hắn lại và nhốt hắn trở lại trong chuông. Nhưng đánh một trận cũng khiến chuông Đông Hoàng bị sứt mẻ, ta lại không thể chỉ dùng có năm thành tu vi mà vá lành nó được. Với ngần này tu vi còn lại trên người, vừa nhẩm tính thì liều tấn công cũng hỏng, mà lý trí phòng thủ cũng hỏng, nếu còn vài phần sáng suốt, cũng đủ biết là không thể đấu lại với hắn.

Nhưng Kình Thương không phải là kẻ lương thiện, bị nhốt ngần ấy năm, không chừng sau khi phá chuông Đông Hoàng chui ra, bạo tính lại bộc phát, lại đứng đầu tập họp thần thú của tám cõi tiêu diệt chư thiên, đốt cháy bốn bể tám cõi và ba nghìn thế giới thành tro bụi.

Nghĩ đến đây, những chuyện phiền não trăng gió canh cánh cả trong giấc mộng vừa nãy đã bay biến đâu cả. Ta lấy quạt Côn Luân, nhún mình vút lên một đám mây, tức tốc nhằm thẳng hướng Nhược Thủy mà đi, định bụng trước khi Chiết Nhan tới, phải cố gắng chống chọi, tuyệt đối không được để Kình Thương phá chuông Đông Hoàng thoát ra.

Ta biết rằng mình sẽ gặp Dạ Hoa ở cửa cốc. Chàng vẫn đứng chờ ở cửa cốc, nếu như ta ra khỏi Thanh Khâu, tất sẽ phải gặp chàng. Ta nhắm mát, giả vờ vô tình đi lướt qua chàng, thì một tay chàng níu tay áo ta lại. Khuôn mặt chàng trắng bệch khiến người ta phát hoảng, dáng vẻ tiều tụy, mệt mỏi thấy rõ.

Chuyện gấp gáp như thế này sao có thể ở đây lằng nhằng với chàng, ta quay đầu dùng quạt chém một nhát cắt đứt một nửa ống tay áo bị chàng giữ, roạt một tiếng, chàng sững người, nghẹn ngào thốt hai tiếng: “Thiển… Thiển”.

Ta không đáp, quay người tiếp tục bay đến Nhược Thủy. Ta liếc nhìn, chàng cũng cưỡi mây bám theo sau.

Nhiều năm về sau, ta luôn nghĩ, khi đó, khi đó cho dù ta chỉ nói với chàng một câu thôi, cho dù chỉ một câu thôi? Nhưng ta lại lạnh lùng nhìn chàng. Một câu cũng không nói. Nhìn xuống Nhược Thủy mờ mịt, sóng bạc dâng cao ngang trời, phía trên mây đen vần vũ, chuông Đông Hoàng như một tòa tháp cao đứng sừng sững bên bến Nhược Thủy, trong nháy mắt một tiếng nổ ầm rung chuyển một phương. Tố Cẩm đáng nhẽ phải trấn thủ chuông Đông Hoàng mất tăm mất tích, có lẽ nhìn thấy cảnh tượng này đã sợ hãi, tìm chỗ trốn rồi.

Trong tầng mây lơ lửng trên không trung đã nhìn thấy ló ra nửa cái đầu của thổ thần Nhược Thủy. Năm trăm năm trước ta đã có duyên gặp mặt với thổ địa này, y ló đầu từ trong mây ra, lo lắng nhìn chuông Đông Hoàng đang rùng lắc, thấy ta và Dạ Hoa, thì cuống quýt vái lạy, lo sợ nói: “Cô cô tiên giá, Nhược Thủy Thần Quân đã lên Thiên Đình cầu cứu rồi, lệnh cho tiểu tiên đứng đây chờ. Cơn tức giận của Kình Thương lần này cực kỳ khác lạ, phủ Thần Quân dưới sông Nhược Thủy cũng bị rung chuyển, miếu thổ địa của tiểu tiên cũng…”, y nói líu ra líu ríu, bỗng chuông Đông Hoàng dưới đất phát ra một luồng sáng cực lớn, trong ánh sáng trắng lờ mờ hiện ra một bóng người.

Ta thầm than hỏng rồi, đanh định lao xuống thì thân hình bị giữ chặt lại.

Dạ Hoa ở phía sau đã dùng dây trói, nhân lúc ta không để ý liền dùng định thân chú, giữa lúc sấm rền chớp giật còn dùng phép thuật trói hai chân hai tay ta. Ta không nhúc nhích được, trơ mắt nhìn Kình Thương sắp thoát khỏi chuông Đông Hoàng, vội hét lên: “Chàng thả thiếp ra”.

Chàng không đáp, mà đẩy ta sang cho thổ địa Nhược Thủy, khẽ nói: “Trông chừng nàng ấy cho cẩn thận, cho dù xảy ra chuyện gì cũng không được để nàng ấy ngã từ trên mây xuống”. Dứt lời lật bàn tay trái một cái, một thanh bảo kiếm sáng lóa lạnh ngắt hiện ra.

Ta trơ mắt nhìn chàng tay cầm bảo kiếm, đón gió xuống mây, lao thẳng vào luồn sáng bạc phát ra từ chuông Đông Hoàng, chỉ cảm thấy trời như sụp xuống, mấy lần há miệng nhưng nói không nên lời, cơn gió lạnh buốt quét qua khiến hai mắt ta đau buốt. Lúc Dạ Hoa lao vào luồng sáng bạc đó, ta nghe thấy mình gào lên một cách tuyệt vọng: “Thổ địa, ngươi thả ta ra, ngươi hãy nghĩ cách thả ta ra, Dạ Hoa chàng đâm đầu vào chỗ chết, trên người chàng đâu còn tu vi, chàng đâm đầu vào chỗ chết!”.

Thổ địa lầm rầm vâng dạ gì đó, có lẽ nói pháp thuật này quá huyền diệu, y không giải được, định thân chú này cũng rất kỳ quái, y cũng không giải được.

Cầu người không được đành phải cầu mình, ta ngưng khí định thả nguyên thần ra khỏi cơ thể, nhưng chẳng ngờ pháp thuật không chỉ khóa thân xác mà còn khóa luôn nguyên thần, ta giãy giụa cũng vô dụng mà thôi. Trong làn nước mắt mờ mịt, luồng ánh sáng bạc quanh chuông Đông Hoàng cũng dần dần tản đi, sấm rền chớp giật khi Dạ Hoa và Kình Thương đấu phép thuật dội thẳng lên trời. Thổ địa tạo một tiên chướng nho nhỏ bên cạnh chúng ta, để phòng ta bị chướng khí làm bị thương.

Pháp khí mà Dạ Hoa dùng để trói ta rất ghê gớm, ta mồ hôi đầm đìa mới giải được định thân chú, nhưng không làm sao thoát ra khỏi pháp khí này.

Giữa trời đất tối sầm, thổ địa nói với ta: “Cô cô, nơi này vẫn hơi nguy hiểm, tiên chướng của tiểu tiên không biết cầm cự được bao lâu, hay là chuyển chỗ đi”.

Ta nghe thấy giọng mình trở nên xa xăm: “Ngươi đi đi, ta ở đây cùng Dạ Hoa”.

Lúc này tuy ta bị trói, chỉ là đồ bỏ đi, chẳng giúp được Dạ Hoa, cho dù như thế, ta cũng muốn bên chàng, nhìn thấy chàng.

Ta chưa bao giờ nhìn thấy Dạ Hoa cầm kiếm, không ngờ chàng cầm kiếm lại có dáng vẻ này.

Nghe nói kiếm thuật của Dạ Hoa rất khá, cây kiếm trong tay chàng tên là Thanh Minh, đám tiểu tiên hâm mộ chàng tán tụng là “Thanh Minh vừa rút, chín châu hãi hùng”. Mới đầu nghe thấy, cảm thấy đó chỉ là lời khen ngợi sáo rỗng của đám tiểu bối, hôm nay chứng kiến hoa kiếm bay lượn do kiếm Thanh Minh tỏa ra, chín châu hãi hùng thực ra cũng hơi khoa trương, nhưng bóng kiếm quả khiến người ta hoa mắt, từng nhát từng nhát đều phát ra sấm sét, khiến mắt ta cay xè.

Hai người họ đánh rất kịch liệt, ta đứng quá cao, không thể nhìn rõ là ai đang giành phần thắng. Nhưng ta biết Dạ Hoa sẽ không cầm cự được lâu, ta chỉ mong chàng cầm cự được đến lúc Chiết Nhan tới, hay là đến lúc đám thiên binh thiên tướng vô dụng do ông nội chàng cử tới cũng được.

Bến Nhược Thủy cát bụi mịt mù, đất đá tung tóe. Bỗng nghe thấy Kình Thương cười dài ba tiếng, sau đó lại ho một trận, chậm rãi nói: “Hôm nay bại dưới tay ngươi, ta không phục. Nếu không phải vết thương năm trăm năm trước chưa khỏi, hôm nay ra khỏi chuông đã rất mất sức, thì tuyệt đối ta không thể thua một thằng nhãi như ngươi”.

Đám khói bụi vần vũ đã tan đi, Dạ Hoa chống kiếm xuống đất, một đầu gối nửa quỳ xuống mặt đất, nói: “Rốt cuộc ngươi vẫn bại”.

Trái tim treo lơ lửng của ta đã lắng xuống, ta run run nói với thổ địa: “Phía dưới ổn rồi, ngươi mau đưa ta xuống dưới…”.

Lúc thổ địa cuống quýt giải tiên chướng, chuông Đông Hoàng bỗng phát ra một luồng sáng màu đỏ như máu. Ta sửng sốt, Kình Thương chưa bại sao? Hắn đã thua rồi, vậy cớ sao chuông Đông Hoàng còn có thể mở ra?

Dạ Hoa cũng ngẩng phắt đầu, trầm giọng nói: “Ngươi đã làm gì trên chuông?”.

Kình Thương nằm trên mặt đất, yếu ớt đáp: “Ngươi muốn biết ư, tại sao ta chẳng chạm tới chuông Đông Hoàng, mà nó vẫn có thể mở ra ư, ha ha, chẳng qua ta dùng thời gian bảy vạn năm, phí bao tâm sức, đã hợp nhất tính mạng của ta với nó. Nếu ta chết đi, chuông Đông Hoàng sẽ tự mở. Xem ra ta cũng sắp chết rồi, không biết chôn cùng ta, là tên nhãi ranh nhà ngươi, hay là chúng tiên của tám cõi…”.

Hắn còn chưa dứt lời, mắt ta đã nhìn thấy Dạ Hoa lao vào đám lửa đỏ đó.

Là tiếng kêu xé gan xé phổi của ai: “Không!”.

Không, không thể? Hay là không cần, không được? Chuông Đông Hoàng mở ra thì sao, chúng thần của tám cõi bị tận diệt thì sao, chung quy hai chúng ta vẫn ở một chỗ, thiêu thành tro thì cũng chung một nắm tro, sao chàng, sao chàng có thể bỏ lại ta một mình chứ?

Khi Dạ Hoa lao vào đám lửa hừng hực như đóa sen đỏ của chuông Đông Hoàng, pháp khí khóa chân tay ta bỗng tan biến. Đúng rồi, nếu chủ nhân của pháp khí tu vi tiêu tan, thì pháp khí này sẽ tự nhiên không trói được người ta nữa.

Đám lửa như đóa sen đỏ đó đã cháy đỏ cả một nửa trời, bến Nhược Thủy quỷ khí âm u, ta dốc tu vi toàn thân trút vào quạt Côn Luân bắn về phía chuông Đông Hoàng. Chiếc chuông lắc một cái, trong ánh sáng màu đỏ đó, ta không tìm thấy bóng dáng Dạ Hoa.

Dường như những tiếng của ác hồn quỷ phách truyền đến, âm thanh đó dần dần tụ lại, giống như thiên binh vạn mã rầm rập lao tới, ầm – tiếng kêu bi thảm của chuông Đông Hoàng.

Ánh sáng đỏ lóe lên, rồi tắt ngấm. Một bóng người màu đen từ đỉnh chuông Đông Hoàng ngã xuống.

Ta lật đật chạy qua đón lấy chàng, bước được hai bước lại ngã nháo nhào xuống đất. Khuôn mặt chàng trắng bệch, khóe miệng còn rỉ máu, dựa vào vai ta, ánh mắt tối sầm. Chiếc áo bào màu đen đã nhuộm máu tươi, nhưng vì là màu đen, nên không nhận ra chàng toàn thân đẫm máu.

Chiết Nhan nói: “Ta luôn cảm thấy Dạ Hoa lúc nào cũng mặc đồ đen rất kỳ lạ, lần đó uống rượu với hắn, ta mới hỏi, ta cứ tưởng hắn thích nhất màu này, nhưng hắn nâng chén rượu hồi lâu, lại chỉ nói đùa với ta rằng, màu này không đẹp, nhưng rất thực dụng, ví dụ một hôm nào đó ngươi bị chém một nhát, máu thấm ra áo, cũng không biết là vệt máu, chỉ cho rằng ngươi bị va vào thau nước, bị nước hắt lên người, chứ không nhận ra ngươi bị thương, người lo lắng cho ngươi sẽ không đau lòng, kẻ thù của ngươi cũng không thể vì chém được ngươi mà thấy sung sướng”. Lúc Chiết Nhan kể cho ta, ta còn vui mừng vì cuối cùng Dạ Hoa đã biết bông đùa. Nhưng đến hôm nay, ta mới biết, những gì chàng nói là những điều chàng đã trải qua.

Ba trăm năm trước, khi ta hóa thành Tố Tố ngây ngô vô tri, tự cho rằng mình yêu chàng như máu thịt; đến khi mất đi hồi ức, chỉ là Bạch Thiển của Thanh Khâu, khi chàng nói yêu ta, dần dần khiến ta rung động trước chàng, cũng ngỡ rằng đó là yêu rất chân thành. Ta không thể tha thứ cho chàng năm đó đã không rõ trắng đen mà móc đôi mắt của ta, ép ta phải nhảy xuống Tru Tiên đài; không thể tha thứ bây giờ chàng luôn nói yêu ta, nhưng chẳng qua chỉ là món nợ năm xưa chàng nợ ta, nên cảm thấy hổ thẹn; không thể tha thứ cho chàng từ đầu chí cuối, chưa bao giờ hiểu ta. Nói cho cùng, Bạch Thiển ta sống ngần này tuổi, trong tình yêu lại ích kỷ đến mức vô lý, chấp nhặt dù chỉ là điều nhỏ nhặt nhất. Nhưng kiếp trước kiếp này, ta liên tiếp hai lần gặp đúng chàng, hai lần đều yêu chàng sâu đậm, bây giờ nhớ lại, ta cũng chưa từng hiểu chàng.

Ví dụ như tại sao chàng luôn vận đồ đen. Hóa ra không phải vì thích màu đen, mà vì không muốn người lo lắng cho chàng phải lo lắng, không muốn lộ vẻ yếu đuối trước mặt kẻ thù. Ta đã quên rằng, chàng luôn là người cắn răng chịu đựng và nuốt máu vào trong. Bảy vạn năm trước, khi Mặc Uyên dùng nguyên thần tế chuông Đông Hoàng, máu trong miệng nôn ra nhiều gấp trăm lần so với vệt máu rỉ ra từ khóe miệng chàng. Tu vi của chàng thua xa Mặc Uyên khi ấy, vậy số máu đáng nhẽ nhiều gấp trăm lần ấy đã đi đâu?

Ta cúi đầu cắn mạnh vào bờ môi chàng, hoàn toàn không chú ý đến cơ thể chàng khẽ run lên, chỉ cố dùng đầu lưỡi tách răng chàng ra, cố gắng tiến vào trong khoang miệng chàng, có thể cảm thấy thứ gì đó vừa nóng vừa tanh đang men theo khe hở do hai miệng áp vào nhau của ta và chàng ào ạt chảy ra, đôi mắt chàng càng lúc càng tối đen.

Ta cùng Dạ Hoa, trong kiếp này ta là Bạch Thiển, một tháng yêu nhau trên Cửu Trùng Thiên, lúc thân mật nhất chẳng qua cũng chỉ vài đêm.

Dạ Hoa đẩy ta ra, ho rũ rượi, ho ra từng ngụm từng ngụm máu lớn, máu đập vào mắt ta khiến mắt ta hoa lên. Cánh tay đẩy ta đã dùng hết sức tàn, chàng ngã dúi dụi trên đất, lồng ngực không ngừng phập phồng, nhưng không nhúc nhích nổi.

Ta bò qua ôm lấy chàng: “Chàng lại định nuốt máu vào ruột ư? Bây giờ chàng bao nhiêu tuổi, chàng yếu đuối thế nào, thiếp cũng không thất vọng gì cả”.

Khó khăn lắm chàng mới thôi ho, muốn giơ tay lên, nhưng không giơ nổi, rõ ràng đến nói cũng khó khăn, lại còn tỏ vẻ không sao, bình thản nói: “Ta không sao, vết thương này không sao đâu. Nàng, nàng đừng khóc”.

Ta ôm chàng bằng cả hai tay, không thể đưa tay sờ lên mặt chàng, chỉ có thể nhìn vào mắt chàng: “Dùng nguyên thần để tế chuông Đông Hoàng, ngoài Mặc Uyên ra, thiếp chưa từng thấy ai thoát khỏi số mệnh phải tan thành tro bụi, cho dù là Mặc Uyên, cũng phải ngủ bảy vạn năm. Dạ Hoa, chàng không lừa được thiếp đâu, chàng sắp chết, đúng không?”.

Cơ thể chàng cứng lại, nhắm nghiền mắt, nói: “Ta nghe nói Mặc Uyên tỉnh lại rồi, nàng hãy ở bên Mặc Uyên, người sẽ chăm sóc nàng thật tốt, còn tốt hơn ta nhiều lần, ta rất an tâm. Nàng hãy quên ta đi”.

Ta lặng người nhìn chàng.

Khoảnh khắc ấy dài như triệu năm, chàng trợn mắt, thở dốc nói: “Ta chết cũng không thể nói những lời này, cả đời ta chỉ yêu mình nàng, Thiển Thiển, nàng mãi mãi không thể quên ta, nếu nàng dám quên ta, nếu nàng dám…”. Giọng nói dần dần trầm xuống, rồi lại khẽ vang lên, “Ta biết làm thế nào?”.

Ta ghé sát tai chàng nói: “Chàng không được chết, chàng cố cầm cự một lát, thiếp đưa chàng đến tìm Mặc Uyên, người tất có cách”. Cơ thể chàng từ từ chùng xuống.

Ta ghé sát tai chàng gào lên: “Nếu chàng dám chết, thiếp lập tức đến tìm Chiết Nhan xin thuốc, thiếp sẽ quên hẳn chàng, một chút cũng không nhớ. Thiếp sẽ cùng Mặc Uyên, Chiết Nhan còn cả tứ ca sống vui vẻ, mãi mãi không thèm nhớ đến chàng”.

Cơ thể chàng run lên một cái, mỉm cười, nói: “Thế cũng tốt”.

Kiếp này, câu nói cuối cùng chàng nói với ta là, “Thế cũng tốt”.

05Feb/17

TAM SINH TAM THẾ – THẬP LÝ ĐÀO HOA – Hồi 21

Cùng với tiếng rồng gầm trên Côn Luân, người đã quay về rồi

Ngày mười lăm tháng tám chơi Tết trung thu, rượu hoa quế trong cung Quảng Hàn cất từ năm ngoái đã xuống men, Thường Nga lệnh cho Ngô Cương ngoài lúc chặt cây ra thì chọn ra mấy vò rượu, tặng mỗi cung thất một vò. Ta đem bình rượu ấm được tặng cho Tẩy Ngô cung, cùng Dạ Hoa uống cạn hai chén, coi như là tiễn biệt chàng xuống hạ giới. Vốn dĩ ta muốn ở bên cạnh chàng, chàng không chịu, bắt ta phải về Thanh Khâu chờ chàng.

Dạ Hoa không cho ta theo chàng, có lẽ sợ rằng khi ở trần gian, ta sẽ bảo vệ chàng mọi lúc mọi nơi, phá giới mà làm phép, sẽ bị phản phệ lại bản thân. Nhưng ta cảm thấy có thể để chàng chịu ít gian khổ, giày vò nhất, thì bị chính pháp thuật của mình phản phệ một đôi lần cũng chẳng sao, nên tính sẽ giả vờ về Thanh Khâu trước, để chàng an tâm, đợi sau khi chàng uống nước Vong Xuyên, đầu thai chuyển thế, rồi ta lại mặt dày đi tìm chàng.

Yêu một người là như thế đó, lúc nào cũng muốn người mình yêu được sống tốt, người mình yêu được sống tốt, thì bản thân cũng vui vẻ. Đây chính là điều kỳ diệu của tình yêu, cho dù chịu tội, chịu khổ, nếu như trong lòng đã có hình bóng một người, thì nỗi khổ sánh ngang trời đấy cũng chỉ là sự giày vò ngọt ngào mà thôi.

Ti Mệnh Tinh Quân lại chỉ cho ta nơi Dạ Hoa đầu thai.

Kiếp này của Dạ Hoa được đầu thai vào một nhà danh gia vọng tộc, đời đời đèn sách ở Giang Nam, thúc bá tổ phụ đều là làm quan cả.

Ti Mệnh vui vẻ hào hứng, tặc lưỡi than, nói xét theo kinh nghiệm nhiều năm viết số mệnh của hắn, đứa con sinh ra trong gia đình này hẳn sẽ nối nghiệp tổ tiên, nhờ ngòi bút có thể hô mưa gọi gió, khuynh đảo thiên hạ, mà xưa nay Dạ Hoa lại rất giỏi văn chương, được đầu sinh thế này vô cùng phù hợp.

Nhưng ta biết rằng phàm các thế gia đại tộc chốn phàm trần trọng nhất là thể thống, dạy dỗ con cháu cực kỳ nghiêm khắc, rất tẻ nhạt. Con cháu họ cũng rất nghiêm khắc, rất tẻ nhạt, không hề hoạt bát đáng yêu giống những đứa trẻ bình thường trong dân gian. Dạ Hoa vốn đã không hoạt bát cho lắm, ta không chỉ mong khi đầu thai chàng có thể hoạt bát hơn, mà còn lo rằng chàng sẽ cô đơn quạnh quẽ suốt thời niên thiếu trong gia đình danh gia này.

Gia tộc Dạ Hoa đầu thai là họ Liễu, đại thiếu gia phu nhân nhà họ hạ sinh chàng là cháu trưởng, đặt tên Liễu Ánh, tự là Chiếu Ca. Ta không thích cái tên này cho lắm, cảm thấy hơi văn vẻ, không hề phù hợp với một Dạ Hoa anh tuấn dũng mãnh chút nào.

Ta trở về Thanh Khâu thu dọn lấy năm bộ xiêm y, gói vào tay nải, rồi lại rót trà mát, nhấp cho ngọt họng, rồi tức tốc chạy đến rừng đào mười dặm của Chiết Nhan, muốn mặt dày đi xin lão ít đan dược.

Nhưng đi đến nửa đường thì nhìn thấy Chiết Nhan đang cưỡi mây bay tới, phía sau còn có tứ ca cưỡi Tất Phương.

Họ dừng lại trước mặt ta.

Hai mắt tứ ca sáng lấp lánh, nói: “Tiểu Ngũ, có lẽ hôm nay muội đã thỏa ước nguyện bao năm. Bọn ta vừa từ Tây Hải trở về, cả đêm qua Điệp Ung vật vã, sáng nay Chiết Nhan dùng truy hồn thuật đi vào hồn y, lại phát hiện hồn Mặc Uyên không còn ở trong nguyên thần của Điệp Ung. Bọn ta định đến động Viêm Hoa xem xem, Mặc Uyên đã ngủ suốt bảy vạn năm, hẳn đã chọn ngày lành là hôm nay để tỉnh dậy”.

Ta thẫn thờ, mãi sau mới sực tỉnh. Lúc tĩnh trí thì thấy cánh tay mình đang lay lay tứ ca, miệng lắp bắp: “Sư, sư phụ tỉnh rồi ư? Người đã tỉnh rồi ư?”.

Tứ ca gật đầu, lại nhíu mày nhắc: “Tay nải của muội rơi khỏi mây rồi kìa”.

Ta biết rằng chưa đầy ba tháng Mặc Uyên sẽ có thể tỉnh lại, bấm ngón tay tính, hôm nay cách ngày Điệp Ung uống viên đan dược đó còn chưa đầy hai tháng, thời gian ngắn như vậy mà người đã có thể tỉnh lại. Người tỉnh lại thật rồi sao?

Bảy vạn năm, trong bốn bể, giữa gầm trời, ta trốn tránh ở Thanh Khâu, tuy rằng không phải trải qua cảnh sinh linh lầm than trời đất đảo điên, nhưng cũng tận mắt chứng kiến đầm Thanh Khâu hạn hán chín trăm chín mươi chín lần, chứng kiến phủ nhà Chúc Âm trên núi Gia Hầu cứ trăm năm lại nhích qua bên động Hồ Ly của cha mẹ ta một trượng. Bảy vạn năm, nửa cuộc đời của ta. Ta dùng nửa đời mình để làm một việc duy nhất đó là ngóng trông sư phụ tỉnh lại. Hôm nay, cuối cùng người đã tỉnh lại rồi.

Chiết Nhan đứng bên cạnh cúi đầu thở dài: “Cũng không uổng công tiểu tử Dạ Hoa trút toàn bộ tu vi”.

Khóe mắt ta cay xè, ta gật gật đầu.

Tứ ca cười nói: “Chuyện của Dạ Hoa huynh đã nghe Chiết Nhan nói, hắn cũng thực si tình. Nhưng số muội cũng không may, vừa mới trả hết nợ Mặc Uyên, thì lại nợ Dạ Hoa, Mặc Uyên muội còn có thể trả người máu tim mình suốt bảy vạn năm, vậy tu vi bốn vạn năm của Dạ Hoa, muội định thế nào?”.

Ta xòe quạt che đôi mắt đang đỏ hoe, cay xè của mình, đáp: “Muội và Dạ Hoa cuối cùng vẫn sẽ kết thành vợ chồng, muội nghĩ rằng vợ chồng yêu thương lẫn nhau, ai nợ ai, thì không cần tính toán”.

Chiết Nhan đứng trên mây cười, nói: “Lúc này ngươi đã ngộ thấu suốt rồi”.

Tất Phương khẽ nói lời chúc mừng, ta cũng cảm ơn hắn một tiếng.

Chiết Nhan và tứ ca đi trước, ta chuyển mây theo sau. Việc của Dạ Hoa tạm hoãn lại, khi ta mới đến núi Côn Luân bái sư học nghệ, cư xử chẳng ra gì, hiếm khi thể hiện đạo hiếu của đệ tử với Mặc Uyên. Sau này hiểu chuyện rồi, lúc biết tận hiếu thì sư phụ đã nằm trong động Viêm Hoa.

Bây giờ Mặc Uyên đã tỉnh, đã cố nén niềm vui trong lòng, muốn ngay lập tức để sư phụ trông thấy, đệ tử nhỏ nhất đã trưởng thành rồi, lớn khôn rồi, biết thương yêu người khác rồi.

Tiểu Thập Thất đã sống rất vui vẻ.

Vì khi làm đệ tử của Mặc Uyên ta là một đệ tử nam, đang định biến lại thành bộ dạng của Tư Âm năm xưa, thì bị Chiết Nhan giơ tay cản lại, nói: “Với tu vi của Mặc Uyên, đã sớm nhận ra ngươi là nữ nhi, chỉ có điều muốn giữ thể diện cho cha mẹ ngươi nên mới không vạch trần, ngươi còn tưởng mình che mắt hắn được suốt hai vạn năm sao?”.

Ta gấp lại chiếc quạt, giả bộ cười cười: “Nói rất phải, pháp thuật của mẹ ta chỉ che được mắt mười sáu sư huynh, còn ta luôn hoài nghi rằng có thể che mắt sư phụ thì cũng hơi hoang đường”.

Ba người chúng ta men theo lưng chừng núi Phong Di, ta xuống mây trước tiên, nguyệt quế giữa núi tỏa hương thơm thanh mát thoang thoảng.

Len giữa hơi thu trong mát của tháng tám, ta đi thẳng một mạch đến động Viêm Hoa.

Giữa mây mù sương khói chờn vờn, cuối động, chính là chiếc giường băng mà Mặc Uyên đã ngủ bao năm.

Trong thời khắc quan trọng này, mắt ta lại hơi hoa lên, ta lấy tay dụi mắt một cái, nước hoen đầy tay.

Trên giường băng thấp thoáng một bóng người đang ngồi.

Ta tiến lên mấy bước.

Người ngồi trên giường băng đó, chính là, chính là sư phụ Mặc Uyên ngủ say bao năm của ta.

Người nghiêng đầu nhìn mấy đóa hoa dại cắm trong chiếc bình bên cạnh. Tư thế, thần thái đó, không hề khác biệt so với bảy vạn năm trước, khiến ta chực rơi lệ.

Bảy vạn năm trước, sư huynh đệ chúng ta luân phiên quét dọn phòng của Mặc Uyên, ta có thói quen cắm ít hoa theo mùa trong bình đặt trong phòng. Ngày ngày Mặc Uyên đều ngắm nghía, rồi cười khen ta như vậy.

Khi ấy, mỗi ngày nhận được nụ cười khen ngợi của người đối với ta, ta đều cảm thấy tự hào.

Ta làm người kinh động, người quay đầu lại, giơ tay chống má, mỉm cười nói: “Tiểu Thập Thất? Quả nhiên là Tiểu Thập Thất. Lại đây sư phụ xem xem, dạo này ngươi tiến bộ ra sao?”.

Ta bấm móng tay vào cổ tay, vừa thở gấp, trống ngực vừa đập thình thình trong lồng ngực, hai mắt ướt nhòe, run run bước tới, hắng giọng gọi một tiếng sư phụ, biết bao cảm xúc đan xen dâng trào, vừa thương cảm vừa vui mừng.

Người giơ tay đỡ ta, nói: “Sao lại sắp khóc thế này, à, bộ váy này đẹp lắm”.

Chiết Nhan rẽ đám mây mù bước tới, theo sau là tứ ca, cười nói: “Ngươi ngủ suốt bảy vạn năm, giờ đã tỉnh rồi”.

Trong động Viêm Hoa rất lạnh, ta hắt hơi mấy cái liền bị tứ ca kéo ra khỏi động. Chiết Chan và Mặc Uyên người trước kẻ sau ra khỏi động.

Năm xưa khi trên Côn Luân, mười sáu sư huynh phía trên ta, ngoài cửu sư huynh Lệnh Vũ là do Mặc Uyên nhặt về, mười lăm sư huynh còn lại đều là con cháu Thiên tộc. Bảy vạn năm trước, sau khi Mặc Uyên mất tích, nghe nói các sư huynh đã tìm ta mấy ngàn năm mà không có kết quả. Sau này từng người từng người bị gia đình gọi về, mỗi người thực hiện một sứ mệnh riêng.

Tứ ca từng âm thầm đến Côn Luân thăm dò một chuyến, sau đó ngậm ngùi nói, Côn Luân đông đúc ngày nào, giờ đây chỉ còn lại một mình Lệnh Vũ và vài tiểu đồng trông giữ, đáng buồn lắm thay.

Ta không biết nếu như Mặc Uyên hỏi ta về Côn Luân, ta sẽ phải trả lời ra sao.

Dọc đường đi về động Hồ Ly ta cứ thắc thỏm bồn chồn không nguôi.

Không ngờ chuyến đầu tiên người đi lại không phải là Côn Luân.

Người ngồi trong động Hồ Ly, Mê Cốc pha một ấm trà bưng lên, ta rót cho mỗi người một tách, nhân lúc ta rót trà, người hỏi Chiết Nhan: “Những năm tay ngủ say, ngươi có gặp một đứa trẻ, có dáng vẻ giống ta không?”.

Bình trà trong tay ta chao đảo, sơ ý rót quá nửa bình lên đầu gối tứ ca.

Tứ ca cắn răng cười với ta một cái, rồi âm thầm gạt nước trên đầu gối đi.

Bao nhiêu năm trong bốn bể tám cõi, ta chỉ gặp một người duy nhất giống hệt Mặc Uyên, ngươi đó chính là phu quân tương lai của ta – Dạ Hoa.

Dạ Hoa có khuôn mặt giống hệt Mặc Uyên, lúc đầu tuy ta có hơi lạ lùng, nhưng cũng chưa bao giờ nghĩ rằng bọn họ có quan hệ gì.

Ta cảm thấy có lẽ đàn ông hoàn mỹ đều có dáng vẻ như vậy, Dạ Hoa rất hoàn mỹ, đương nhiên sẽ có dáng dấp như vậy.

Nhưng nghe Mặc Uyên nói, hai người bọn họ không chỉ có quan hệ, mà lại còn có quan hệ rất mật thiết.

Ta dỏng hai tai lên lắng nghe, Chiết Nhan cười ha ha, mắt liếc ta một cái, nói: “Đương nhiên có một người như thế, tiểu đồ đệ của ngươi còn rất thân với hắn là đằng khác”.

Mặc Uyên nhìn qua phía ta, mặt ta liền đỏ bừng lên. Tình huống này hơi giống với một thiếu nữ tự đính ước với tình lang, chẳng may bị một em gái “môi mỏng” tố giác chuyện trăng gió với cha mẹ, cho nên ta cũng cảm thấy hơi ngượng ngùng.

Chiết Nhan lại liếc mắt nhìn ta ba, bốn lượt đầy ẩn ý. Ta cũng lườm lại lão, đành cố ra vẻ thong thả, nói: “Người mà sư phụ nói tới, hì hì, chính là phu quân tương lai của đồ đệ, hì hì, chính là thái tử bây giờ của Thiên tộc, hì hì hì…”.

Bàn tay cầm tách trà của Mặc Uyên khẽ khựng lại, cúi đầu hắng giọng, lát sau, người mới bình thản nói: “Mắt chọn nương tử của người này, haizz”. Ngẩng đầu lên, người lại hỏi: “Phu quân chưa cưới của ngươi tên gì? Sinh năm nào?”.

Ta thành thực bẩm báo.

Người bấm ngón tay nhẩm tính, lại bình thản nhấp ngụm trà: “Tiểu Thập Thất, đệ đệ song sinh với ta, đã bị ngươi bắt rồi”.

Ta choáng váng: “A?”.

Không chỉ ta mà cả Chiết Nhan và tứ ca cũng đều trợn mắt há mồm, bộ dạng như bị sét đánh trúng vậy.

Mặc Uyên xoay xoay chén trà, nói: “Chẳng trách các ngươi kinh ngạc, đến ta cũng chỉ được biết khi phụ thân lâm chung, năm xưa mẫu thân tuy chỉ sinh ra mình ta, nhưng ta vẫn còn có một đệ đệ song sinh”.

Mặc Uyên nói, chuyện này phải kể từ khi Mẫu thần hoài thai hai huynh đệ.

Nghe nói năm đó, tứ cực đổ, cửu châu lở. Mẫu Thần vì vá bốn cột chống trời, nên đã bị động thai, khi sinh chỉ có thể giữ được đứa lớn, không thể giữ đứa nhỏ, Phụ Thần cảm thấy có lỗi với con trai nhỏ, đành cố lưu lại hồn phách đáng nhẽ đã tiêu tan vào vũ trụ của nó, nuôi trong nguyên thần mình của mình, muốn xem xem có thiên số và cơ duyên, để có thể tạo một tiên thai cho đứa con trai nhỏ, để nó có thể sống lại. Phụ Thần đã dành một nửa pháp lực để tạo ra một tiên thai, nhưng dù làm cách nào vẫn không thể gọi hồn phách của đứa con nhỏ tỉnh lại được. Phụ Thần bèn biến tiên thai đó thành một quả trứng chim vàng sáng lấp lánh, giấu trong núi sau núi Côn Luân, định đợi hồn phách đứa con trai nhỏ tỉnh lại sẽ dùng.

Nhưng thiên mệnh như thế, chẳng đợi được hồn phách đứa con trai nhỏ tỉnh lại, Mẫu Thần Phụ Thần đã cùng nhau về nơi hỗn độn.

Trước khi lâm chung, Phụ Thần có kể chuyện này cho Mặc Uyên nghe, rồi tách hồn phách của đứa con trai nhỏ trong nguyên thần ra, gửi gắm cho Mặc Uyên. Mặc Uyên nhận hồn phách của đệ đệ mình, cũng như Phụ Thần, đem nuôi dưỡng trong nguyên thần của mình. Bãi bể biến nương dâu bao bận, người em song sinh được nuôi trong nguyên thần của Mặc Uyên vẫn chưa hề tỉnh lại.

Mặc Uyên nói: “Có lẽ khi ta dùng nguyên thần tế chuông Đông Hoàng, nó đã tỉnh lại. Bây giờ ta mới có thể trở lại, hẳn lúc ta hồn tan phách tan, nó đã tốn công thu nhặt từng mảnh hồn phách tan tác của ta lại. Ta còn láng máng nhớ, có một đứa trẻ ngồi bên cạnh cơ thể ta vá từng mảnh hồn của ta, vá suốt bảy, tám nghìn năm, vá được một nửa thì bị một đạo kim quang chiếu rọi vào trong động phủ của ta cuốn mất đi. Sau khi nó đi, ta đã có thể tự mình vá hồn, nhưng rất khó khăn, tốc độ cũng hết sức chậm chạp. Giờ nghe các ngươi kể, nó đã là thái tử của Thiên tộc, có lẽ khi ấy vị phu nhân nào đó trên trời dạo chơi Côn Luân, nuốt phải quả trứng mà Phụ Thần chôn năm nào, tiên thai đã cắm rễ trong bụng vị phu nhân đó, mới cuốn nó đi”.

Chiết Nhan cười ha ha, nói: “Chẳng trách ta nghe nói, khi Dạ Hoa chào đời, có bảy mươi hai con chim ngũ sắc bắc cầu suốt tám mươi mốt ngày, ráng đỏ phương đông chiếu rạng suốt ba năm, hóa ra hắn là đệ đệ song sinh của ngươi”.

Khi nãy nghe được tin này ta đã choáng váng sững sờ, thật không ngờ có một ngày lại có thể với cao có quan hệ thân thiết như thế với Mặc Uyên. Bây giờ nghe người kể ngọn nguồn, sau khi bàng hoàng, ta lại cảm thấy cực kỳ trấn tĩnh, thậm chí cảm thấy dáng vẻ của Dạ Hoa như vậy, quả đúng là đệ đệ song sinh của Mặc Uyên.

Trong sử sách trên Cửu Trùng Thiên rõ ràng còn ghi chép, Phụ Thần chỉ có một con trai là Mặc Uyên. Có thể thấy các thần quan chép sử này đều là không đáng tin, tin vào sử sách đó, thì chẳng thà tin vào những câu chuyện mà Ti Mệnh nhàn rỗi thêu dệt nên còn hơn.

Mặc Uyên muốn đi thăm Dạ Hoa, nhưng người vừa mới tỉnh lại, muốn khôi phục như ngày xưa còn phải đóng cửa tu luyện mấy năm. Ta lo lắng cơ thể người chưa được linh hoạt, nếu cứ khăng khăng đi xuống trần gian thì e rằng sẽ bất lợi cho việc tu luyện, nên đành kiếm một cái cớ để lấp liếm, hẹn rằng khi nào người tu luyện xong, sẽ dẫn Dạ Hoa đến gặp người.

Động Viêm Hoa tuy rằng linh khí hội tụ, nhưng quá lạnh lẽo, không thích hợp để Mặc Uyên tu luyện. Người một lòng muốn về động phủ sau núi Côn Luân đóng cửa tu luyện như năm nào, tuy ta không muốn để người thấy cảnh tiêu điều của Côn Luân ngày nay mà đau lòng, nhưng giấy sao gói được lửa, cuối cùng thì người vẫn phải đau lòng mà thôi. Nghĩ rằng đau muộn chẳng bằng đau sớm, sau hai tuần trà, ta cùng Mặc Uyên trở về Côn Luân. Chiết Nhan và tứ ca nhàn tản rỗi rãi, cũng đi theo, còn Tất Phương cũng đi theo nốt.

Năm người chúng ta cưỡi ba đám mây bay về Côn Luân, tứ ca từng nói Côn Luân giờ đây tiêu điều hiu quạnh vô cùng.

Ta cũng thở dài một tiếng.

Từ cửa núi đi xuống có rất nhiều tiển thần tiên, hoặc đứng hoặc quỳ hoặc ngồi, khí xanh khí tím trộn lại, mây mù bốc lên lưng chừng núi, tiên khí cuồn cuộn dâng cao, ai cũng có thể nhận ra đây là một ngọn núi tiên.

Trong hai vạn năm ta học nghệ ở đây, Côn Luân luôn vắng vẻ, chỉ không quá bảy vạn năm, sao lại nhộn nhịp thế này?

Tất Phương chở tứ ca, co móng vuốt đậu xuống, rồi lại khều một tiểu thần tiên trông có vẻ thực thà hỏi thăm.

Tiểu thần tiên chớp chớp mắt, trả lời: “Ta cũng không biết, ta đi công chuyện ngang đây, nghe nói có một đạo long khí quấn quanh vách núi đã ba bốn ngày, rất nhiều tiên hữu đều đến đây xem, ta cũng tiện đường đến xem. Chuyến này quả không uổng công, long khí này, chậc chậc chậc, không phải long khí bình thường, tuyệt đẹp, ta ngồi đây ngắm đã hai ngày rồi. Ngươi thả con chim này đi bắt sâu, lát nữa chúng ta cùng xem, đảm bảo khiến ngươi đã mắt, bên ta còn một chỗ, đây, chúng ta ngồi đây xem…”.

Tứ ca cảm ơn rồi từ chối ý tốt của tiểu thần tiên đó, im lặng quay về, hắng giọng nói: “Không có gì, bọn họ ngưỡng mộ phong thái của Côn Luân, nên đến chiêm bái”.

Chiết Nhan rũ rũ tay áo, ho một tiếng, nụ cười phảng phất, nói với Mặc Uyên: “Côn Luân vốn là một tòa núi tiên mọc ra từ long cốt(42). Có lẽ nó cảm nhận được ngươi sắp quay về, nên phấn chấn tới mức xuất ra long khí để đón tiếp, thế nên đã thu hút được một số tiểu tiên thiếu hiểu biết xung quanh”.

Mặc Uyên nhếch môi cười.

Để tránh quấy rầy đám tiểu thần tiên ở lưng chừng núi, năm người chúng ta đều ẩn thân đi vào trong. Nhờ cửu sư huynh giữ nguyên nếp cũ, phép khóa ở cửa núi vẫn như xưa, không hề sửa đổi.

Ta ngỡ rằng hôm nay sẽ chỉ có thể gặp mỗi Lệnh Vũ, nào ngờ vừa bước vào, cảnh tượng trước mặt làm ta giật nảy cả mình. Mười sáu sư huynh của ta, đều mặc đạo bào như khi còn làm đệ tử của Côn Luân, tóc búi kiểu đạo sĩ, đứng thành hai hàng bên cạnh con đường đá.

Cây trong viện vẫn là cây Bà La Song mà mấy vị Phật Đà từ Tây Thiên đến uống trà mang tới. Mười sáu sư huynh của ta đứng trang nghiêm dưới bóng Bà La Song, dường như đã đứng đó suốt bảy vạn năm.

Đại sư huynh mắt đỏ hoe trước tiên, quỳ “phịch” một tiếng xuống đất, giọng run run: “Mấy hôm trước Cửu sư đệ đưa tin tới, nói long khí ở Côn Luân bốc lên, có lúc còn có tiếng rồng gầm, không biết là điềm gì, sư huynh đệ chúng con về ngay trong đêm, tuy từng nghĩ là điềm lành sư phụ sẽ quay về nhưng cũng không dám tin. Hôm nay ở trong điện cảm thấy khí trạch của người quẩn quanh bên ngoài, chúng con vội vã chạy ra nhưng vẫn không kịp ra ngoài cửa núi đích thân đón người, sư phụ, người đi đã bảy vạn năm, giờ mới quay về”. Dứt lời, đã khóc không thành tiếng. Khuôn mặt huynh ấy đã không còn là gương mặt thuở niên thiếu, tuổi tác đã cao hơn nhiều, khóc như thế này, thực khiến người ta nghẹn lòng. Mười lăm sư huynh còn lại đều nhất loạt quỳ xuống nức nở. Mười sáu sư huynh đều khóc không thành tiếng.

Mặc Uyên cúi nhìn, nói: “Đã để các con phải chờ lâu rồi, đứng dậy cả đi, vào trong nhà rồi nói”.

Câu chuyện bắt đầu là các sư huynh khóc lóc một trận, khóc xong bèn kể năm đó không cẩn thận đã để lạc mất Tư Âm Thần Quân, tức thượng thần bất tài là ta.

Nhắc đến ta, đại sư huynh bi phẫn khôn cùng. Năm đó vốn là ta bỏ thuốc bọn họ, rồi trộm tiên thể của Mặc Uyên rời khỏi Côn Luân ngay trong đêm. Sai lầm này của ta huynh ấy quyết không nhắc tới, chỉ luôn miệng nói đã không chăm sóc ta, để lạc ta, là lỗi của huynh ấy. Mấy năm nay huynh ấy không ngừng tìm kiếm ta, nhưng bặt vô âm tín, có lẽ ta đã lành ít dữ nhiều. Huynh ấy thân là đại sư huynh mà không làm tròn bổn phận, đến tiểu sư đệ cũng không bảo vệ nổi, xin sư phụ xử phạt thật nặng.

Ta đứng bên cạnh tứ ca, nghe huynh ấy nói như vậy, viền mắt đỏ hoe, vội vàng trình bày: “Ta không phải lành ít dữ nhiều, ta đang đứng sờ sờ trước mặt huynh, chẳng qua ta chỉ thay đổi xiêm y, ta là Tư Âm đây”.

Các sư huynh ngẩn người, đại sư huynh loạng choạng ngã xuống đất, một lúc sau, mới lồm cồm bò dậy ôm lấy ta, lau nước mắt, chua chát nói: “Cửu sư đệ nói trong lòng ai cũng có một giấc mộng đoạn tụ, năm đó nhị hoàng tử Quỷ tộc đến cướp đệ, ta đã đánh cho hắn đứt giấc mộng này, nhưng lại không kịp thời cắt đứt giấc mộng của đệ, Thập Thất đáng thương biết bao, bây giờ đệ đã thành đoạn tụ, còn lại là đoạn tụ thích mặc quần áo con gái…”.

Tứ ca không nhịn được cười sằng sặc.

Ta cố gắng ngăn dòng lệ, đau buồn nói: “Đại sư huynh, khuôn mặt này của ta, huynh xem lại có phải là nam giả nữ không?”.

Thập sư huynh kéo đại sư huynh ra, ngượng ngùng nói: “Trước đây đệ không chịu tắm chung với bọn ta, hóa ra là vì thế, hóa ra Thập Thất đệ lại là con gái”.

Tứ ca ta kéo dài giọng: “Nàng là một nữ nhi xinh đẹp…”.

Ta đá cho huynh ấy một cái.

Đại sư huynh trước đây không như vậy, quả nhiên tuổi cao sẽ dễ dàng trở nên đa sầu đa cảm.

Sau chuyện của ta, là kể đến chuyện các sư huynh trong bảy vạn năm nay đã tự mình gây dựng sự nghiệp hiển hách.

Mười sáu sư huynh này của ta, thuở thiếu thời cũng chẳng ra sao, ta theo bọn họ, tuy không trèo cây hái táo, xuống sông bắt cá nữa, nhưng lại học được thói đá gà, đuổi chó, chọi dế, học được thói cưỡi ngựa xem hoa, uống rượu xem cung xuân đồ, chuyện nào cũng thành thạo, giấu sư phụ xuống trần gian làm bậy, còn tự cho mình là phong lưu ngàn năm khó gặp.

Ngày nay ta ra nông nỗi này, không thể không kể đến công lao của mười sáu sư huynh. Nhưng mười sáu sư huynh khiến ta ra nông nỗi này, ai cũng thành tài. Khi ông trời an bài số phận cho chúng ta, hẳn ông ấy đang ngủ gật.

Nhưng cơn ngủ gật của ông trời lại khiến ta rất hởi lòng hởi dạ, hẳn sư phụ người cũng rất hởi lòng hởi dạ.

Sau khi hởi lòng hởi dạ, tai lắng nghe những chiến công hiển hách của các sư huynh, lại nghĩ đến lúc các huynh ấy lập công lao ta đang làm những gì, so sánh với nhau, một cảm giác buồn bã cứ thế dâng trào.

Tứ ca ngồi bên cạnh tay cầm bút ngồi chép lia lịa, thỉnh thoảng còn vỗ tay hô to: “Ly kỳ, thật ly kỳ”. Ngoài cảm xúc buồn bã ra là cảm giác mất mặt, xấu hổ.

Thập sư huynh an ủi ta: “Muội là con gái, con gái thì chẳng cần lập công lao làm gì, đám muội muội của ta cả ngày chỉ nghĩ đến chuyện gả cho một nhà chồng tốt, Thập Thất, muội chỉ cần gả cho một nhà chồng tốt là hạnh phúc rồi”.

Thập lục sư huynh cười hì hì nói: “Thập Thất đã ngần này tuổi, không cần nói đến nhà chồng nữa, e rằng con cũng có mấy đứa rồi. À, đúng rồi, hôm nào cho các sư huynh gặp phu quân của muội đi. Dung mạo, tính cách muội như vậy, không biết được gả cho vị phu quân như thế nào”.

Những lời của huynh ấy từng câu từng chữ giẫm vào vết đau của ta, ta lau mồ hồi trán, ngượng ngập cười khan nói: “Nói hay lắm, nói hay lắm, tháng sau nữa là lễ thành hôn của muội, lúc đó mời các huynh đến uống rượu”.

Mặc Uyên từ nãy tới giờ ngồi bên lắng nghe, khi ta thốt ra hai tiếng “uống rượu”, chén trà trong tay người nghiêng một cái, rớt một nửa ra ngoài, ta vội chạy đến thu dọn. Chiết Nhan ho hai cái.

Cửu sư huynh Lệnh Vũ quản lý Côn Luân đâu ra đó, tứ ca tròn một tháng không về động Hồ Ly, bụi trong phòng huynh ấy cũng tích dày nửa thước. Đã bảy vạn năm ta chưa lên Côn Luân, căn phòng ta ở khi còn làm đệ tử vẫn sạch sẽ tinh tươm. Ta hôi rình mồ hôi, nằm trên giường, rồi lại trở mình một cái.

Người ở phòng bên cạnh là Thập lục sư huynh Tử Lan. Ta nghe thấy huynh ấy gõ gõ lên tường, hỏi: “Thập Thất, muội ngủ chưa?”.

Ta hừ mũi, để tỏ ý chưa ngủ. Nhưng âm thanh này cũng chỉ như muỗi kêu vo ve, có lẽ huynh ấy không nghe thấy, nên lại thưa: “Chưa ngủ”.

Huynh ấy ngưng bặt một lát, rồi âm thanh lại vẳng qua tường: “Bảy vạn năm nay, vì sư phụ, muội đã khổ nhiều rồi”.

Trong ấn tượng của ta, Thập lục sư huynh này rất thích chọc ghẹo ta, làm những việc ngược với ta, ta nói đông, huynh ấy sẽ chỉ tây, ta nói thứ này tốt, huynh ấy sẽ chê thứ đó không đáng một đồng. Bây giờ huynh ấy nói câu này, không khỏi nghi ngờ, rốt cuộc huynh ấy có phải là Thập lục sư huynh không, bèn cao giọng hỏi: “Huynh là Tử Lan à?”. Huynh ấy im lặng một lát, hừ một tiếng: “Bảo sao ngần này tuổi muội vẫn không lấy được chồng”.

Huynh ấy đúng là Tử Lan.

Ta cười ha ha, không thèm so đo với huynh ấy, nằm trên giường trở mình.

Ta sống đến ngần này tuổi, tuy đã trải qua biết bao chuyện phải nuối tiếc, nhưng giờ đây, trên chiếc giường mỏng manh ở núi Côn Luân này, ta lại cảm thấy những chuyện phải nuối tiếc trong quá khứ thực ra không đáng để nuối tiếc. Ánh trăng dìu dịu lọt vào trong phòng, phong cảnh bên ngoài ô cửa sổ kia không có gì đặc biệt cả.

Nhị ca thường dùng lý luận “tri túc thường lạc”(43) để tôi luyện tính cách của ta. Nhưng ta chưa bao giờ biết thế nào là “biết đủ”, cảm thấy “biết đủ” không giống như hay quên có thể vui, ngày tháng trôi qua hồ đồ, điên đảo. Giờ đây ta đã hiểu ra, hay quên chẳng qua chỉ là tự lừa dối bản thân để mong sống yên vui, “biết đủ” lại có thể khiến người ta thực sự thoải mái. Thực sự thoải mái rồi, sự yên vui này mới là sự yên vui vĩnh hằng. Hiểu thấu điều này, trong phút chốc, ta cảm thấy mình quá hạnh phúc, chỉ mong mau mau được nói cho Dạ Hoa nghe. Nhưng có lẽ lúc này Dạ Hoa có nghe cũng không hiểu những gì ta nói. Giây phút này, có lẽ chàng đã tròn một tuổi. Haizz, không biết khi tròn một tuổi chàng trông như thế nào, đôi mắt ấy có lạnh lẽo như hồ nước giống chàng bây giờ hay không? Chiếc mũi ấy có cao giống chàng bây giờ hay không? Haizz, không biết chàng có giống cục bột nhỏ hay không.

Ta đã nghĩ rất nhiều, rồi dần dần chìm vào giấc ngủ.

Không hiểu sao việc Mặc Uyên quay trở lại bị đồn ra ngoài, sáng sớm hôm sau, những loài bay trên trời, bò dưới đất, phàm là có chút linh căn, đều có thể biết được thượng thần cai quản âm nhạc và chiến tranh đã quay về.

Theo như tin đồn thì, Mặc Uyên đầu đội mũ vàng tía, thân mặc áo giáp Huyền Tinh, chân đi giày Tạo Giác, tay cầm kiếm Hiên Viên, trong lòng còn ôm một tiểu nương tử yểu điệu thướt tha, vào giờ Mùi ba khắc ngày mười sáu tháng tám, người uy phong lẫm liệt đậu xuống núi Côn Luân. Lúc Mặc Uyên đậu xuống núi Côn Luân, dãy núi dài men theo Côn Luân đều rúng động ba lần, chim muông muôn thú đều ngửa cổ lên trời kêu dài, cá, rồng dưới nước đều nổi lên vui mừng kinh ngạc rơi lệ.

Tin đồn này quá phi lý, mười bảy sư huynh đệ chúng ta nghe thấy mà chực khóc ròng.

Mũ vàng tía, giáp Huyền Tinh, hài Tạo Giác, kiếm Hiên Viên thì đúng là trang phục xưa nay khi Mặc Uyên xuất chinh, bảy vạn năm nay vẫn luôn đặt ở chính điện ở Côn Luân, để cho các đệ tử chúng ta chiêm ngưỡng. Còn tiểu nương tử yểu điệu thướt tha, ta và tứ ca suy nghĩ rất lâu, mới hiểu ra có lẽ là chỉ thượng thần bất tài là ta.

Những tin đồn quái ác này ai ai cũng biết, cho nên họ đều lũ lượt hết tốp này đến tốp khác đến bái kiến.

Mặc Uyên định ngày thứ hai sau khi về Côn Luân sẽ đóng cửa tu luyện, nhưng vì vậy nên phải dời lại mấy ngày.

Đám tiểu thần tiên đến bái kiến không có gì đặc biệt, có người được đại sư huynh, nhị sư huynh dẫn đến trước mặt Mặc Uyên nói một, đôi câu; có người chỉ ngồi ở tiền sảnh uống trà, nghỉ ngơi rồi ra về. Chỉ có người thanh niên đến vào trưa ngày thứ ba mới có chút bất thường.

Người thanh niên này toàn thân vận áo bào trắng, thanh tú tao nhã, nét mặt cũng hết sức hiền hậu. Lúc Mặc Uyên gặp y, nét mặt lạnh lùng cũng hơi sững lại. Người thanh niên vận bào trắng cẩn thận quan sát Mặc Uyên, nhưng không hành lễ, chỉ nhíu mày, nói: “Đã lâu không gặp thượng thần, tinh thần thượng thần vẫn như xưa. Trọng Doãn lần này đến Côn Luân, chỉ vì đêm qua tỷ tỷ báo mộng cho ta, nhờ ta gửi một câu đến thượng thần, tỷ tỷ ta”, y cười cười, nói, “tỷ ấy nói tỷ ấy chỉ có một mình, cô đơn biết bao”.

Ta vẫy một tiểu đồng hầu hạ bên Thập sư huynh lại, sai nó đi rót thêm trà cho Trọng Doãn áo trắng kia.

Mặc Uyên không nói gì, chỉ chống má lạnh nhạt dựa vào tay vịn của ghế ngồi.

Chiết Nhan liếc Mặc Uyên một cái, rồi lại cười hòa nhã với Trọng Doãn: “Tiểu đệ Trọng Doãn, phải chăng ngươi đang nói đùa, tỷ tỷ ngươi đã tan thành tro bụi mười mấy vạn năm rồi, sao có thể báo mộng cho ngươi được?”.

Trọng Doãn cũng nhã nhặn nheo mắt đáp lời: “Thượng thần Chiết Nhan quả thực đã trách nhầm Trọng Doãn rồi, Trọng Doãn đúng là tới để chuyển lời của tỷ tỷ, không hề có ý gì khác. Ta cũng chẳng muốn nhọc sức, chỉ là trong giấc mộng tỷ tỷ quá đáng thương, không đành lòng nên hôm nay mới phải lên Côn Luân. Thượng thần Chiết Nhan nói tỷ tỷ của Trọng Doãn đã tan thành tro bụi, nên không thể báo mộng cho Trọng Doãn. Nhưng thượng thần Mặc Uyên chẳng phải khi xưa cũng nói là tan thành tro bụi, đến giờ lại có thể quay về, tỷ tỷ ta tuy tan thành tro bụi, nhưng hồn chẳng biết ở tận nơi đâu, báo mộng cho ta, thì có gì là không thể chứ?”.

Dứt lời y cúi người hành lễ, rồi đi ra khỏi chính điện.

Đến khi Trọng Doãn ra khỏi chính điện, Chiết Nhan mới đọc một câu kinh Phật.

Mặc Uyên không nói câu gì từ khi ngồi xuống, giờ đi về phía hậu viện. Ta nhấc chân lên định chạy theo xem xem, liền bị Chiết Nhan chặn lại.

Nhị sư huynh trưng bộ mặt khổ sở sán lại: “Sư phụ đi như thế, nếu có tiên hữu tới thăm hỏi, thì phải làm thế nào?”.

Chiết Nhan buồn rầu ngẩng lên nhìn trời cao, nói: “Dẫn họ đến tiền sảnh uống trà đi, uống đủ rồi thì tiễn về. À, mà trà còn đủ dùng không?”.

Ta nhẩm tính, gật đầu, nói: “Còn đủ, còn đủ”.

Ta luôn cảm thấy sư phụ ta Mặc Uyên, là một người rất có lai lịch. Tất cả đều có trước có sau, sư phụ quả nhiên là người có lai lịch. Nhưng nghe lời lẽ của Trọng Doãn áo trắng kia, thì dường như là một lai lịch đầy mưa máu gió tanh. Ta hơi lo lắng. Thân làm đệ tử nên tận hiếu, ta định bụng khi chiêu đãi xong đám tiểu thần tiên ở tiền sảnh sẽ đến phòng của Mặc Uyên để an ủi người.

Đêm đến, khi ta đẩy cửa phòng của Mặc Uyên, người đang ngồi trầm tư trước cây cổ cầm, ánh đèn vàng vọt hắt lên khuôn mặt, lộ rõ thần sắc đau thương của người. Ta đứng trước cửa sững sờ, ánh mắt người đang nhìn cây cổ cầm dần dần ngước lên, cười nhạt nói: “Đứng ở cửa làm gì, vào đi”.

Ta lặng lẽ bước vào, định bụng đến an ủi người, nhưng câm nín hồi lâu, mà chẳng thốt lên được câu nào. Chuyện của người thực ra ta cũng không rõ, nhưng nghe người thanh niên áo trắng đó nói, thì chắc chắn là một mối bi tình trăng gió. Nếu như là một mối bi tình trăng gió, thông thường nên lấy câu gì mào đầu đây?

Ta suy nghĩ rất lung, bên tai bỗng vang lên tiếng đàn rời rạc. Tay phải Mặc Uyên lướt trên phím đàn, tùy ý gảy mấy nốt, nói: “Cái tật lúc nào cũng lơ đễnh của ngươi vẫn giống như mấy vạn năm trước”.

Ta chun mũi cười cười, rồi đến cạnh người, ra vẻ thân thiết khuyên nhủ: “Sư phụ, người chết không thể hồi sinh, có lẽ Trọng Doãn quá nhớ tỷ tỷ mình, người chớ nên canh cánh trong lòng”.

Người sững lại, cúi đầu lại tùy ý gảy hai nốt đàn, rồi lạnh lùng nói: “Đêm nay ngươi qua đây là vì chuyện này ư?”.

Ta gật đầu.

Tiếng đàn hỗn loạn bỗng ngưng bặt.

Người ngẩng đầu nhìn, nhìn ta rất lâu, lại hỏi một câu chẳng liên quan: “Ngươi đối với hắn, là thật lòng ư?”.

Mất một lúc lâu ta mới hiểu “hắn” ở đây là Dạ Hoa, trong lòng tuy cảm thấy hơi ngượng khi nói chuyện này trước mặt bề trên, nhưng xấu hổ không phải là phong cách của ta, bèn sờ mũi thành thật nói: “Thật lòng. Vô cùng thật lòng”.

Người ngoảnh mặt đi, nhìn ra ngoài khung cửa rất lâu, nói: “Vậy thì tốt, ta cũng an tâm”. Đêm nay thần sắc của người hơi cổ quái, lẽ nào, lẽ nào lo lắng ta làm con gái thì không ra gì, cho nên không gả được chồng sao? Ta hiểu ra điều này, cười hì hì an ủi người: “Sư phụ không cần lo lắng, Dạ Hoa chàng rất tốt, chúng con tâm đầu ý hợp, con đối với chàng thật lòng, chàng đối với con cũng vậy”.

Người không quay đầu lại, chỉ lạnh lùng nói: “Đêm khuya rồi, ngươi về phòng nghỉ đi”. Từ đó về sau, Mặc Uyên hiếm hoi mới đến chính điện. Đêm đó ta đến để an ủi người, nhưng sau khi ra khỏi phòng của người mới phát hiện là chưa hề an ủi gì, ta thấy hơi xấu hổ. Có lẽ chuyện này vẫn nên tự mình bỏ đi mới được, người ngoài rốt cuộc vẫn không thể giúp được.

Cứ tưởng không gặp được Mặc Uyên đã làm nhiệt tình muốn thăm hỏi của đám tiểu thần tiên mấy hôm trước nhạt bớt, chẳng ngờ tinh thần của họ vẫn hừng hực như cũ. Đến ngày cuối cùng, thời gian họ ngồi uống trà ngày càng lâu, lượng trà uống cũng ngày càng nhiều. Tứ ca đoán rằng đây chính là một cơn gió độc mang tên ganh đua. Ví dụ như lúc ta còn nhỏ thường so bì xem ai có thể hái được nhiều đào hơn, uống được nhiều rượu hơn ở chỗ Chiết Nhan. Cho nên đã vội vã dán một trang cáo thị, thông báo cho các thần tiên đến Côn Luân thăm hỏi, mỗi người chỉ có thể nhận một chén trà để uống, lại không được thêm nước. Nhưng cho dù như vậy, người đến vẫn nườm nượp.

Ta ngồi ở tiền sảnh đóng giả người pha trà mười hai ngày, đêm ngày thứ mười hai cuối cùng đã không chịu nổi, lôi tứ ca đến dưới gốc táo trong trung đình, cầu xin huynh ấy giúp ta trông chừng thời gian khoảng bảy, tám nén nhang, để ta xuống trần gian một chuyến xem xem Dạ Hoa ra sao.

Táo ngọt ở cây táo đã kết quả to bằng ngón tay, vỏ quả màu xanh, vẫn chưa ăn được. Tứ ca hái hai quả, cầm trong tay, nói: “Muội lén lút như vậy không phải sợ bị các sư huynh biết được, cười muội là nữ nhi tình trường chứ?”.

Huynh ấy cũng có lúc nhìn nhầm.

Ta thế này chẳng có liên quan gì tới các sư huynh, có điều lo lắng Mặc Uyên biết được đệ đệ song sinh của người bị xuống trần gian lịch kiếp, buộc phải đi xem sao, trần thế ô trọc, không tốt cho việc hồi phục tiên thể của người. Tứ ca nghĩ như vậy, có lẽ huynh ấy cảm thấy nữ nhi đều mặt mỏng cả, cho dù ta đã cao tuổi, nhưng cũng không phải là ngoại lệ. Nào hay da mặt ta còn dày hơn huynh ấy tưởng rất nhiều, đã phụ sự tin tưởng của huynh ấy, ta cũng cảm thấy hơi xấu hổ.

Tứ ca xòe ra ba ngón tay, nói: “Nếu như đồng ý trông khoảng bảy, tám nén nhang, đêm nay huynh khỏi phải ngủ nữa, nên nhiều nhất cũng chỉ trông giúp muội khoảng một nén nhang. Dạ Hoa chẳng qua xuống trần gian lịch kiếp, chứ có gì to tát đâu, mà muội cũng phải đi theo để xem, muội bám hắn cũng chặt thật đấy”.

Ta im thin thít, tai đỏ bừng bừng. Hôm nay nhờ vả không chọn đúng lúc, ta quên béng rằng buổi chiều huynh ấy vừa cãi cọ với Chiết Nhan ở hành lang. Nhưng thời gian một nén nhang cũng khiến ta thỏa nguyện rồi, thế nên sấn bước ra ngoài núi.

Huynh ấy vứt hai quả táo trong tay xuống hồ sen, khẽ buông một câu: “Nếu quá một nén nhang mà không quay về, đừng trách huynh đích thân xuống nhắc muội đấy”. Có thể thấy hôm nay tứ ca giận Chiết Nhan ghê gớm.

Trên núi Côn Luân dải ngân hà lấp lánh ánh sao, đêm sâu thăm thẳm, còn ở phàm trần lại là ban ngày, trời xanh ngăn ngắt. Ta đậu xuống bên ngoài một phòng học, rồi ẩn thân, nghe thấy tiếng đọc sách vẳng lại: “Thúc Hướng gặp Hàn Tuyên Tử, Huyên Tử lo nghèo, Thúc Hướng chúc mừng”(44).

Ta nhìn về phía nơi phát ra tiếng đọc, ánh mắt chạm phải một đứa bé mặt mũi khôi ngô ngồi cuối lớp. Gương mặt đứa trẻ này tuy có thể coi là xuất chúng ở phàm trần, nhưng vẫn hơi non nớt, có lẽ khi lớn lên chưa chắc đã bằng gương mặt của Dạ Hoa, nhưng thần sắc lạnh lùng thì giống hệt Dạ Hoa.

Tiếng đọc dứt, thầy giáo liếc cuốn sách giáo khoa trong tay, nói: “Liễu Ánh, con hãy đứng dậy giải thích cho các bạn nghe đi”. Đứa trẻ lạnh lùng thưa vâng đứng dậy. Lòng ta run run, ánh mắt của bản thượng thần thật tinh tường, đứa trẻ này quả nhiên là Dạ Hoa đầu thai. Ta liền hiểu ra, cho dù chàng chuyển thành dáng vẻ gì ta vẫn nhận ra chàng.

Chàng giải thích rành rọt, cặn kẽ từng điều, thầy giáo vuốt chòm râu dê nghe rất chăm chú, nét mặt khoan khoái, khiến ta nhớ đến sự hãnh diện của Thập lục sư huynh Tử Lan ở lớp học năm nào.

Đây thực sự là một chuyện đau lòng, mất mặt. Năm đó, bản thượng thần còn ngây ngô, bị các sư huynh dẫn dắt thành ra không tiến bộ đã quen, khi lên lớp Mặc Uyên giảng bài, ta cảm thấy thật tẻ nhạt, thường cùng Thập ngũ sư huynh chuyền giấy nói chuyện riêng, coi đó là thú vui. Nhưng chúng ta đạo hạnh nông, học nghệ không tinh, mười lần thì chín lần bị Mặc Uyên bắt. Phương pháp trách tội của Mặc Uyên mãi mãi không thay đổi, hễ bị bắt được là phải đọc thuộc một đoạn Phật lý dài lê thê, hết sức khô khan trước mặt các sư huynh. Đáng thương thay râu ria của những đoạn Phật lý mà sư phụ chỉ định ta đều không biết gì hết, càng chớ nói đến chuyện đọc thuộc nó. Ta dùng dằng, dùng dằng mãi, ngắc nga ngắc ngứ, Thập lục sư huynh mãi đến lúc này được gọi dậy, đọc trôi chảy đoạn Phật lý đó trước mặt ta, rảnh rỗi còn có thể giải thích qua loa một lượt ý nghĩa của đoạn vừa đọc. Thế nên, phàm là những người có tri thức, đều có thể lập tức vừa nhìn đã nhận ra ta là đệ tử không tiến bộ.

Thập ngũ sư huynh và ta “đồng bệnh tương lân”, chúng ta cảm thấy Tử Lan kia quá thông minh, thực đáng ghét, bèn chỉ trời chỉ đất mà thề, đời này sẽ không chơi bời với loại người thông minh, còn viết một lá thư, điểm chỉ lên đó, chôn dưới gốc cây táo trong trung đình ở Côn Luân, để làm chứng.

Nhưng bây giờ, dáng vẻ thông minh đĩnh đạc của Dạ Hoa trong lớp học, ta lại thấy sao mà đáng yêu.

Ta ẩn mình bên ngoài cửa sổ lớp học, đợi đến khi họ tan trường.

Hai tiểu thư đồng giúp Dạ Hoa thu dọn bàn học, rồi cõng chàng ra khỏi cửa. Ta cũng bám gót theo sau, không biết làm thế nào mới có thể hiện hình một cách tự nhiên rồi đến trước mặt chàng chào hỏi. Ta suy nghĩ, đắn đo, chần chừ. Sau lưng vang lên tiếng “vèo vèo”, ta vừa phất tay áo theo phản xạ, hai viên đá nhỏ bay vút tới lập tức bị đổi hướng, đập “bộp” lên thân cây liễu già ven đường.

Tiếng động khiến Dạ Hoa quay đầu, ba, bốn đứa trẻ kêu ầm lên rồi bỏ chạy, vừa chạy vừa hát bài đồng dao. Bài đồng dao này tổng cộng có bảy câu, rằng: “Gạo cũng quý, dầu cũng quý, nhà họ Liễu sinh ra đứa tàn phế. Kiếp trước tạo nghiệt, kiếp này đền, đạo trời luân hồi chẳng thương lượng. Cho dù thần đồng biết nhiều chữ, một kẻ tàn phế biết làm chi?”. Đầu ta “ầm” một tiếng, ngẩng đầu nhìn cánh tay phải của Dạ Hoa.

Thiên Quân, con bà ông chứ. Dạ Hoa là cháu ruột ông, sao ông lại độc ác thế, đầu thai rồi cũng không chịu cho chàng một cơ thể bình thường, ống tay áo bên phải của Dạ Hoa rõ ràng, rõ ràng là trống không mà!

Hai đứa thư đồng cõng Dạ Hoa một lòng bảo vệ chủ, định đuổi theo mấy con thỏ đế thì bị ngăn lại. Mấy con thỏ đế đó ta nhìn rất quen, chợt nhớ ra là bạn học của Dạ Hoa. Là người từng trải, ta thừa hiểu suy nghĩ của chúng, chắc chắn là học hành chẳng ra sao, thấy Dạ Hoa tài hoa hơn người, nên sinh lòng ghen ghét. Nhưng ghen ghét thì cứ ghen ghét, im lặng ở bên cạnh không thèm đếm xỉa là được rồi, còn bịa ra bài đồng dao độc ác kia thực quá đáng. Hừ, lũ thỏ đế chậm tiến bộ như thế, sau này nếm khổ, mới biết rằng những việc làm năm xưa mới hồ đồ làm sao.

Cánh tay trái Dạ Hoa phẩy phẩy ống tay phải trống phơ phất, hơi cau mày, không nói gì mà quay người tiếp tục đi về phía trước. Ta rất đau lòng nhưng không thể lập tức hiện hình, để tránh dọa mấy người bọn họ, đành nuốt nỗi chua xót vào trong lòng.

Từ lúc hoàng hôn đến khi đêm xuống, ta không tìm được thời cơ thích hợp để hiện thân trước mặt Dạ Hoa. Hai đứa thư đồng lúc nào cũng bám sát lấy chàng, khiến ta phát bực. Cuối giờ Tuất, Dạ Hoa mới leo lên giường, hai đứa thư đồng cởi áo hầu chàng đi ngủ, sau khi tắt đèn khoảng nửa tuần trà, cuối cùng đã ngáy khò khò.

Ta thở phào một hơi, giải chú ẩn thân, ngồi bên giường Dạ Hoa, mượn ánh trăng sáng bên ngoài khung cửa, đến gần ngắm chàng thật kỹ, lại đưa tay lay lay chàng tỉnh qua lần chăn. Dạ Hoa “ừm” một tiếng, nửa ngồi nửa mơ màng nói: “Chuyện gì thế?”, đến khi nhìn rõ người ngồi trước mặt chàng không phải là thư đồng mà là ta thì sững sờ. Chàng cứ đờ đẫn nhìn ta, mãi sau, nhắm mắt rồi lại nằm xuống giường, miệng còn lầm rầm: “Hóa ra là nằm mơ”.

Ta run rẩy trong lòng, cuống quýt lay chàng dậy, trước khi chàng cất tiếng đã hỏi trước: “Chàng nhận ra ta không?”. Ta biết chắc chàng không nhận ra, ban nãy chỉ là câu nói thốt ra khi bị đánh thức thôi, nhưng lòng vẫn ôm một tia hy vọng, vẫn bướng bỉnh mở miệng hỏi.

Quả nhiên chàng trả lời: “Không nhớ”. Mày hơi nhíu lại, có lẽ đã tỉnh ngủ, ngập ngừng hồi lâu, nói: “Không phải ta nằm mơ sao?”.

Ta móc một viên dạ minh châu to bằng trứng bồ câu từ trong tay áo ra, tốt xấu gì cũng tỏa chút ánh sáng, kéo tay chàng chạm lên mặt ta, cười nói: “Chàng cảm thấy đang trong mộng sao?”.

Khuôn mặt chàng liền từ từ ửng đỏ.

Ta nhích lại ngồi gần chàng hơn một chút, chàng lùi lại phía sau, mặt lại đỏ lựng lên. Ta chưa từng gặp một Dạ Hoa như thế này, cảm thấy thật mới mẻ, lại ngồi xuống trước mặt chàng, chàng dứt khoát lùi vào góc tường, rõ ràng gương mặt trắng trẻo đã đỏ bừng bừng, vậy mà còn ra vẻ lạnh lùng, điềm tĩnh, nói: “Nàng là ai? Sao lại vào phòng ta?”.

Ta nhớ đến một vở kịch nổi tiếng mình đã từng xem, kể về một con cá tầm tinh màu trắng tên là Bạch Thu Luyện yêu một chàng công tử thiếu niên tên là Mộ Thiềm Cung, tương tư thành bệnh, cho nên đêm đêm gặp gỡ, là một câu chuyện rất hay. Dạ Hoa thế này khiến ta nảy ý muốn trêu chọc, bèn làm bộ ưu sầu nói: “Thiếp vốn là một tiểu tiên ở Thanh Khâu, mấy hôm trước xuống trần du ngoạn, hâm mộ phong thái của lang quân, đem lòng tưởng nhớ lang quân, vì chàng mà võ vàng tiều tụy, thế nên mới đến cùng chàng ân ái một đêm”, lại còn giả vờ xấu hổ nhìn chàng một cái. Lời này tuy rằng khiến toàn thân ta nổi da gà, nhưng nhìn ánh mắt chàng, ta tự thấy mình diễn rất tốt.

Chàng ngẩn người, lát sau mặt đỏ tía tai, che ống tay áo ho hai tiếng: “Nhưng, nhưng chỉ mới mười một tuổi”. … Thời gian một nén nhang trôi qua thật nhanh, Dạ Hoa lúc đầu thai thú vị hơn chàng lúc bình thường rất nhiều. Xem ra nhà họ Liễu ở phàm trần dạy con cái còn bài bản hơn lão Thiên Quân cô độc trên Cửu Trùng Thiên. Ta cũng hơi yên tâm.

Ta chưa nới với chàng về nhân duyên kiếp trước, chàng cũng tin rằng ta chỉ là một tiểu tiên vô tình say mê phong thái của chàng, mà đem lòng yêu nhớ, chỉ có điều luôn băn khoăn mình mới mười một tuổi mà thôi, sao lại có thể làm cho một nữ thần đã qua tuổi hoa niên mê mẩn được, huống hồ mình lại còn tàn phế một tay.

Cho nên quá trình khuyên nhủ chàng vô cùng vất vả.

Ta mong chàng có thể reo hò như những đứa trẻ bình thường khác, nhưng kiếp này chàng lại là một thần đồng, tương lai sẽ là một tài tử. Bọn tài tử xưa nay càng khó thuyết phục, lay động hơn người thường, cho nên ta chỉ có thể chỉ trời chỉ đất làm chứng, thi thoảng còn diễn ánh mắt yếu đuối, buồn thảm, thút thít đôi tiếng, cuối cùng cũng khiến chàng tin ta.

Trước lúc đi, chúng ta trao tín vật cho nhau, ta trao cho chàng chuỗi ngọc mà lúc ta xuống trần giúp Nguyên Trinh độ kiếp chàng đã trao cho ta. Chuỗi ngọc này có thể bảo vệ chàng bình an, ta không thể ở bên chàng, chàng đeo chuỗi ngọc này cũng có thể khiến ta an tâm hơn. Chàng lấy miếng ngọc bội đeo trên cổ xuống, đeo lên cổ ta. Ta ghé sát tai chàng, không quên dặn dò chuyện quan trọng: “Chàng không được cưới người con gái khác, đợi rảnh rỗi thiếp sẽ đến thăm chàng nhiều hơn, đợi khi chàng lớn, thiếp sẽ lấy chàng”. Chàng đỏ mặt, bình tĩnh gật đầu đồng ý.

Ta nói rảnh rỗi sẽ đến thăm Dạ Hoa nhiều hơn. Nhưng sau khi về tới Côn Luân, lại chẳng hề được rảnh rỗi.

Mặc Uyên cuối cùng đã định được ngày đóng cửa tu luyện, sau bảy ngày nữa. Chiết Nhan cần luyện ít đan dược cho Mặc Uyên, để khi người đóng cửa tu luyện có thể mang vào trong động phối hợp trị liệu, chọn ta đi giúp lão một tay. Cả ngày ta quẩn quanh trong phòng thuốc hoặc phòng luyện đan, đến thời gian nghỉ ngơi uống trà cũng không có. Đến chiều ngày mùng hai tháng chín, đem một bình ngọc đựng đầy đan dược mới luyện thành trao cho Mặc Uyên, để người mang vào động. Trước khi vào động, thần sắc người bơ phờ mệt mỏi, không nói gì với các sư huynh, chỉ hỏi ta một câu: “Dạ Hoa đối với ngươi tốt chứ?”. Ta thành thật đáp, người gật gật đầu rồi đi vào trong động.

Sau khi Mặc Uyên đóng cửa tu luyện thì không còn thần tiên nào đến. Ta nhẩm số trà trên núi cũng sắp uống hết rồi.

Mười lăm sư huynh từng người cáo từ trở về làm việc của mình, chỉ để lại tiểu đồng của mình giúp đỡ Cửu sư huynh lo liệu. Ta cũng theo Chiết Nhan và tứ ca cáo từ xuống núi.

Sau khi xuống núi, ta bay thẳng đến trần gian.

Tính ra Dạ Họa năm nay đã mười tám, mười chín tuổi, với người phàm trần đây là tuổi tài hoa phong nhã đương nở rộ, không biết tiểu Dạ Hoa mười một tuổi nay đã như thế nào.

Ta ôm ấp trái tim đầy kích động, nhẹ nhàng đậu xuống trước nhà họ Liễu.

Nhưng lục tung cả nhà họ Liễu lên cũng không tìm thấy Dạ Hoa. Trái tim kích động này đã bị giội một gáo nước, buốt thấu tim.

Ta thất vọng ra khỏi nhà họ Liễu, tìm một nơi yên tĩnh hiện hình, ngẫm nghĩ, rồi lại đến tìm một nô tỳ trước phủ nhà họ Liễu hỏi han, hỏi thì mới biết Dạ Hoa mấy năm trước đã vinh danh bảng vàng, đang làm quan dưới chân thiên tử trần gian.

Nô bộc nhà họ Liễu ngẩng lên nhìn trời xanh thăm thẳm, mắt không giấu nổi vẻ tự hào: “Đại thiếu gia nhà tôi là thần đồng trăm năm mới có, kỳ tài, quả là kỳ tài, mười hai tuổi đã vào nhà Thái học, năm năm trước hoàng đế mở ân khoa, thiếu gia thi lấy lệ cũng đã đỗ Trạng nguyên, từ chức Biên tu trong Hàn lâm viện đã rộng đường công danh, nay đã làm Thượng thư bộ Hộ, kỳ tài, quả là kỳ tài”.

Ta chẳng hề hứng thú với việc Dạ Hoa làm chức quan gì, nhưng biết được nơi chàng ở thì rất vui mừng, bèn xốc lại tinh thần, niệm chú gọi mây xanh, đến cung điện của thiên tử chỗ chàng.

Chú thích:

42. Long cốt: xương rồng.

43. Tri túc thường lạc: Tự thấy đủ sẽ thường thấy vui (ND).

44. Nguyên văn: Thúc Hướng kiến Hàn Tuyên Tử, Tuyên Tử ưu bần, Thúc Hướng hạ chi. Trích trong “Tả truyện” (ND).

05Feb/17

TAM SINH TAM THẾ – THẬP LÝ ĐÀO HOA – Hồi 20

Ta tiếc rằng đã không thể gặp chàng trong những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời

Ta còn nhớ Tiểu Chúc Âm ở thủy phủ cạnh nhà mình, năm đó nàng ta được gả đi, mẹ chồng chẳng vừa lòng, bị mẹ chồng hiếp đáp. Cha nàng biết được, tức giận đùng đùng làm loạn nhà chồng nàng lên cả ngày. Mẹ chồng nàng đấu không lại cha nàng, mà lại nuốt không trôi cục tức này, đã đâm đơn đến trước động Hồ Ly, muốn nhờ cha ta ra mặt làm chủ, thay mặt nhà họ bỏ Tiểu Chúc Âm. Vì cha của Tiểu Chúc Âm đã đả thương người khác trong địa bàn của nhà chồng Tiểu Chúc Âm, dù sao cũng đuối lý, để tránh sau này xảy ra đại họa, cha ta đã suy tính trước sau, định y chuẩn cho lá đơn của mẹ chồng Tiểu Chúc Âm, cắt đứt quan hệ hai nhà.

Mẹ ta nhìn thấy Tiểu Chúc Âm thì động lòng trắc ẩn, còn thay nàng cầu xin cha ta, nói nàng ta không xinh đẹp, lại được chiều chuộng quen, nếu như bị nhà chồng bỏ, chắc chắn không lấy được chồng lần nữa. Làm sao mà chuyện nhà họ lại nhiều khúc mắc vậy, cha ta xưa nay chí công vô tư, thế nên cuối cùng Tiểu Chúc Âm vẫn bị chồng bỏ.

Khi ấy ta và tứ ca trong lòng cũng có chút đồng tình với Tiểu Chúc Âm, cảm thấy nhân duyên sao mà thảm đạm. Tứ ca còn nâng mặt ta lên nhìn một lượt, rồi rút ra kết luận “Ta tuy được chiều chuộng giống Tiểu Chúc Âm, nhưng xinh đẹp hơn nhiều, cho dù là nhà chồng bỏ thì vẫn không đến nỗi không lấy được chồng nữa”, sau đó mới thấy an tâm. Nhưng tứ ca cũng đã an tâm quá sớm. Sau một vạn tám nghìn năm, ta bỗng ngộ ra chân lý: Trong số mệnh, đường nhân duyên có tốt hay không cũng chẳng quan hệ gì tới dáng vẻ bề ngoài.

Trong mấy vạn năm sau đó, nàng Tiểu Chúc Âm bị mẹ ta cho rằng không xinh đẹp thì hoa đào(39) lại nhặt hết giỏ này đến giỏ khác, đám nam thần tiên đến động Chúc Âm cầu thân dường như đã giẫm phẳng động phủ Chúc Âm nhà họ. Nhờ phúc của những nam thần tiên này, Tiểu Chúc Âm cũng tự học thành tài, lột xác thành cao nhân một đời về khoản chơi đùa nam thần tiên.

Trong mấy vạn năm ấy, bản thượng thần ta được tứ ca gửi gắm bao hy vọng, được đánh giá là dung mạo xinh đẹp, thì tình duyên chỉ đếm trên đầu ngón tay, vỏn vẹn gặp đúng năm đóa hoa đào.

Đóa thứ nhất chính là cửu hoàng tử của tộc Bỉ dực điểu(40). Khi hắn cùng cha mình đến làm khách ở Thanh Khâu, hắn đã yêu tiểu nha đầu hai vạn tuổi là ta ngay từ cái nhìn đầu tiên, lúc gần đi, hắn còn giấu cha mẹ ta lén kéo ta sang một bên, nhổ hai chiếc lông vũ làm vật đính ước, nói đợi hắn lớn thêm một chút nữa, rồi sẽ cưỡi mây ngũ sắc đến cưới ta về làm vợ. Lông vũ trên người hắn có hai màu, một xanh một đỏ, ta thấy màu mè sặc sỡ thì rất thích, bèn nhận lấy, bụng nghĩ gả cho tộc Bỉ dực điểu kể cũng không đến nỗi nào. Nhưng mãi sau, lại nghe Mê Cốc buôn chuyện rằng, người trong tộc Bỉ dực điểu của hắn không thể kết hôn với người ngoại tộc, cửu hoàng tử của tộc Bỉ dực điểu lại nhất quyết đòi lấy ta, nào là tuyệt thực, nào là nhảy sông, làm náo loạn cả lên. Cha mẹ hắn không chịu được phiền phức, một đêm nhân lúc hắn say ngủ cho hắn uống hai viên tình dược, rồi đưa hắn lên giường một cô nương có vai vế trong tộc Bỉ dực điểu. Híc, hắn tự thấy mình đã làm chuyện có lỗi với ta, không còn mặt mũi nào cưỡi mây ngũ sắc đến cưới ta nữa. Ta đem hai chiếc lông vũ hắn tặng, cùng mấy chiếc lông gà rừng làm thành chiếc chổi lông gà, đem quét bụi cũng rất tốt.

Đóa thứ hai chính là nhị hoàng tử Ly Kính của Quỷ tộc. Xem ra ta và hắn cũng ngọt ngào bên nhau được ít ngày, sau này lại gây oan nợ với hắn do Huyền Nữ giật dây bắc cầu.

Đóa thứ ba là con trai thứ hai Tang Tịch của Thiên Quân. Đây cũng coi như là mối nhân duyên do cha mẹ ép ta nhận lấy. Nhưng số ta không thể nhận được mối nhân duyên này, cho nên Tang Tịch vừa đến Thanh Khâu một chuyến đã có duyên tình với tỳ nữ của ta, rồi hai người bỏ trốn.

Đóa thứ tư là vật cưỡi của tứ ca – Tất Phương. Nhưng Tất Phương giấu giếm tình cảm của hắn cũng hơi sâu một chút, dường như chưa từng nhiệt tình sôi sục như đám nam thần tiên ngưỡng mộ Tiểu Chúc Âm, khó khăn lắm mới đợi đến được lúc hắn nghĩ thông suốt để cuồng nhiệt theo đuổi một lần, thì lúc đó ta đã được đính hôn rồi.

Bốn đóa hoa đào ấy, có ba đóa là hoa héo, chỉ còn một đóa đẹp hơn cả, nhưng chỉ được vẻ bên ngoài mà thôi.

Đóa cuối cùng trong năm đóa chính là Dạ Hoa.

Phu quân tương lai Dạ Hoa của ta, ta tiếc rằng mình đã không thể gặp chàng trong những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời.

Từ Tây Hải mù mịt ráng khói, ta cưỡi mây lên Cửu Trùng Thiên, vì giữa đường bị ngã từ trên mây xuống một lần thành ra lôi thôi lếch thếch, lúc đến Nam Thiên Môn, ta bị hai thiên tướng canh cổng không khách khí ngăn lại.

Đầu tóc áo quần của ta quả thực không lịch sự cho lắm, làm giảm uy nghi của Thanh Khâu, nhưng vì nóng lòng muốn gặp Dạ Hoa, nên bất đắc dĩ lại phải mượn đến đại danh của Chiết Nhan, giả mạo là tiên sứ của lão, phụng lệnh lão đến thăm hỏi thái tử điện hạ của Thiên Đình – Dạ Hoa Quân.

Hai thiên tướng này đúng là làm việc cẩn thận, hết sức khách khí bảo ta đứng chờ một bên, tự mình đến Tẩy Ngô cung bẩm báo. Lòng ta nóng như lửa đốt, nhưng lại thấy họ đến Tẩy Ngô cung bẩm báo mà không phải là đến Lăng Tiêu điện bẩm báo, nên đoán rằng Dạ Hoa không sao cả, lòng cũng nhẹ nhõm ít nhiều.

Vị thiên tướng đi trước bẩm báo đi khoảng được chừng nửa tuần trà mới quay về, theo sau là một tiểu tiên nga tới dẫn đường cho ta. Ta cũng có chút ấn tượng về tiểu tiên nga này, hình như chính là nô tỳ trong thư phòng của Dạ Hoa. Nhìn thấy ta, nàng ta giương mắt tròn xoe, nhưng rốt cuộc vẫn là nô tỳ trong thư phòng của Dạ Hoa, nên hiểu biết, đôi mắt tuy trợn lên tròn như một cái bánh rán, nhưng miệng vẫn không mấp máy. Chỉ nghiêm chỉnh cúi chào ta một cái, rồi run rẩy chăm chú đi trước dẫn đường.

Hôm nay gió mát phe phẩy, ta ngửi thấy trong đó thoang thoảng hương sen thơm ngát.

Đã sắp đến Tẩy Ngô cung, ta hắng giọng hỏi: “Quân thượng các ngươi, chàng gần đây thế nào? Bây giờ có đang làm việc không?”.

Tiểu tiên nga dẫn đường quay đầu lại, cung kính thưa: “Gần đây quân thượng rất khỏe. Vừa cùng mấy vị tinh quân như Tham Lang, Cự Môn, Liêm Trinh bàn bạc công chuyện xong, bây giờ đang ở thư phòng đợi thượng thần giá đáo”.

Ta gật đầu một cái.

Nửa tháng trước chàng mới mất đi tu vi hơn vạn năm, bây giờ có thể ngồi đây bàn công chuyện, khôi phục cũng khá nhanh.

Tiểu tiên nga đó dẫn ta đi một mạch đến thư phòng của Dạ Hoa, rồi cung kính lui gót.

Ta vội vàng đẩy cánh cửa thư phòng, vội vàng bước qua bậc cửa, vội vàng vén bức rèm bên trong. Những hành động vội vàng ấy tuy nhìn vẫn rất đẹp mắt, nhưng vì lo lắng trong lòng nên khó tránh không chú ý va phải hai bình hoa cổ, gây ra tiếng động nho nhỏ.

Dạ Hoa đang vùi đầu trong đống giấy tờ, bỗng ngẩng lên nhìn ta nửa cười nửa không, day day góc trán nói: “Hôm nay nàng còn đặc biệt đến chỗ ta sao?”. Trên chiếc bàn đầy công văn còn có vài cuốn sổ đang mở.

Bề ngoài nhìn chàng không nhợt nhạt như khi ở Thủy Tinh cung Tây Hải lần trước, nhưng ta vẫn nhận ra chàng xanh xao đi rất nhiều.

Bây giờ ta đã không còn vô tâm như thuở nhỏ, dần dần hiểu rằng một người nếu muốn giấu bạn những điều không tốt của mình, thì bạn sẽ nhìn ngay ra những điểm không tốt của người đó.

Ta vội bước lên hai bước đến trước mặt chàng, định bắt mạch cho chàng. Thì chàng đột nhiên ngưng bặt nụ cười, vòng qua giữ chặt vạt áo của ta, cau mày hỏi: “Cái gì đây?”.

Ta cúi đầu xuống nhìn: “À, không có gì, khi sử dụng truy hồn thuật với Tây Hải đại hoàng tử một canh giờ trước, không để ý kinh động thần thức, nôn ra hai ngụm máu nhỏ mà thôi”.

Chàng đứng dậy, bưng chén lên xoay người rót thêm trà, vừa rót vừa nói: “Tuy nàng hết lòng chăm sóc Mặc Uyên nhưng cũng phải chăm sóc cho chính mình, nếu khi Mặc Uyên tỉnh lại mà nàng lại quỵ ra đó, thì không tốt đâu”.

Ta nhìn bóng lưng chàng, nhẹ nhàng nói: “Chàng đoán xem khi ta đi vào nguyên thần của Tây Hải đại hoàng tử, ta đã nhìn thấy gì?”.

Chàng quay người lại, đưa chén trà cho ta, nghiêng đầu hỏi: “Mặc Uyên à?”.

Ta đón lấy chén trà, thở dài đáp: “Dạ Hoa, bốn con ác thú canh giữ cỏ Thần Chi ở Doanh Châu, hình dáng ra sao? Viên tiên đan Chiết Nhan đưa cho ta là do chàng luyện phải không? Bây giờ trên người chàng còn lưu lại được tu vi bao nhiêu năm?”.

Chàng bưng chén trà đứng lặng, sắc mặt vẫn u ám, sau đó lại mỉm cười, nói: “Haizz, chuyện là như thế này. Trước đây Thiên Quân có sai ta đến Đông Hải trông coi, lúc ghé qua Doanh Châu bỗng nhớ đến nàng cần tới cỏ Thần Chi, nên nhân thể lấy mấy nhành. Còn mấy con ác thú mà nàng nói, hình dáng xấu xí, nếu như chúng dễ coi một chút, thì có thể bắt một con về cho nàng huấn luyện, lúc rảnh rỗi giải sầu. Nàng cũng hay rảnh rỗi mà”.

Chàng nói những lời này sao quá nhẹ nhàng, còn ta vẫn nhớ khi cha ta từ Doanh Châu trở về mình đầy thương tích. Ta nghe thấy tiếng của mình vang lên khô khốc: “Vậy viên tiên đan đó đã làm mất tu vi bao nhiêu năm của chàng? Lúc chàng nhờ Chiết Nhan đem đến cho ta sao còn phải giấu ta?”.

Chàng nhíu mày ra vẻ ngạc nhiên, nói: “A? Có chuyện vậy sao? Chiết Nhan không nói với nàng viên tiên đan đó là do ta luyện ư?”. Rồi lại cười, tiếp lời: “Đúng là không nên nhờ lão ta làm hộ, để lão cướp không công lao của ta”. Rồi lại vừa giở công văn trên bàn vừa nói, “Ta bẩm sinh tu vi đã cao hơn những thần tiên bình thường, trước đây Thiên Quân cũng độ cho ta không ít. Luyện viên tiên đan này cũng chỉ là chuyện vặt thôi”.

Ta nhìn cánh tay phải giấu trong tay áo của chàng, dịu dàng hỏi: “Lúc chàng rót trà, giở công văn, sao chỉ dùng tay trái, còn tay phải thì không dùng tới?”.

Cánh tay trái đang giở công văn của chàng khựng lại.

Nhưng cũng chỉ khựng lại trong giây lát, rồi lại thong thả giở tiếp, miệng vẫn nói: “Haizz, lúc lấy cỏ Thần Chi không cẩn thận để con Thao Thiết cắn một phát, đúng ngay tay phải, cho nên mới không được cử động. Cũng không có gì đáng lo ngại, Dược Quân cũng đã khám rồi, nói dưỡng thương một tháng là sẽ hồi phục”.

Nếu như ta trẻ hơn chàng, thì không chừng cũng tin những lời dối trá này. Nhưng ta đã sống ngần này tuổi, đương nhiên biết rằng chàng nói dối.

Chàng nói Thiên Quân độ tu vi cho chàng, tất nhiên Thiên Quân không vô duyên vô cớ mà độ tu vi cho chàng, hẳn là cái lần chàng nhảy xuống Tru Tiên đài, mất tu vi, tính mạng cũng sắp mất, Thiên Quân mới độ tu vi cho chàng. Ví dụ như bảy vạn năm trước mẹ ta cứu ta, cũng vì lẽ ấy. Thiên Quân độ cho chàng tu vi tất nhiên chỉ là bù lại phần đã mất, tổng cộng cũng không thể vượt quá tu vi năm vạn năm của chàng. Ta nhẩm tính tiên khí dùng để điều dưỡng cho Mặc Uyên chí ít cũng phải mất tu vi bốn, năm vạn năm.

Chàng nói Thao Thiết cắn một miếng vào cánh tay phải của chàng, chỉ là một vết thương nhỏ, chỉ cần dưỡng thương là khỏi. Thần tiên thời viễn cổ chúng ta đều hiểu, ác thú Thao Thiết vô cùng hung tợn, nó đã cắn cái gì thì thứ đó từ da đến xương đều bị nuốt trôi, xưa nay chưa từng có ai dám nói Thao Thiết cắn một miếng chỉ là vết thương nhỏ.

Những lời nói dối này rõ ràng là để an ủi ta. Để chàng khỏi thất vọng, tuy trái tim nhói từng cơn đau buốt nhưng cũng chỉ có thể giả vờ an tâm, nhẹ nhõm thở phào nói: “Vậy thì tốt, vậy thì tốt, ta yên tâm rồi”.

Chàng nhíu mày, cười cười, nói: “Ta có gì khiến nàng không yên tâm chứ? Có điều, Tây Hải đại hoàng tử mới dùng tiên đan chưa lâu, sợ còn phản ứng. Lúc này nàng lại lên Thiên Cung, chỉ sợ xảy ra sơ suất”.

Những lời này rất khéo léo nhưng rõ ràng có ý tiễn khách. Nhìn vẻ ngoài sắc mặt vẫn tốt, nhưng cũng hơi tiều tụy, chàng gắng gượng như vậy có lẽ cũng chẳng được bao lâu nữa. Để giữ thể diện cho chàng, ta đành tỏ vẻ giật mình vì được chàng nhắc nhở, tặc lưỡi kêu: “Ai da, suýt nữa thì quên, vậy ta về trước, chàng cũng chịu khó dưỡng thương nhé”.

Lúc nói ra câu đó, ta cảm thấy vừa đau lòng vừa buồn bã.

Ta quyết định về Thanh Khâu hỏi Chiết Nhan, xem xem thương thế của Dạ Hoa rốt cuộc ra sao.

Lòng nóng như lửa đốt, ta vội vã quay về, nhưng Chiết Nhan lại không còn ở Thanh Khâu nữa.

Tứ ca miệng ngậm cây cỏ đuôi chó đang nằm phơi nắng trên bãi cỏ bên ngoài động Hồ Ly, nói với ta: “Mấy hôm trước Chiết Nhan về rừng đào rồi. Nghe nói gần đây hắn làm một chuyện sai trái, vì đã bao năm không làm chuyện sai trái, nên cảm thấy cắn rứt lương tâm, phải quay về rừng đào ăn năn”.

Ta chán nản rủa một tiếng, lại cưỡi mây đi thẳng về rừng đào mười dặm.

Lúc tìm Chiết Nhan ở Bích Dao trì sau rừng đào, vẫn là giờ Ngọ mặt trời còn treo trên đỉnh đầu, nhưng miệng lão cứ ngậm chặt, đến khi lão mở miệng kể về chuyện của Dạ Hoa đã là giờ Tý trăng treo ngang trời.

Kể rằng vào hơn nửa tháng trước, đêm mười sáu tháng sáu, lão cùng tứ ca ta ngắm trăng trong rừng trúc bên ngoài động Hồ Ly, bỗng một đôi tiên quân từ trên trời xuất hiện. Đôi tiên quân này vâng mệnh của Thiên Quân, cấp tốc tới cửa cốc Thanh Khâu, mời lão lên Cửu Trùng Thiên một chuyến, cứu một người. Trên trời xưa nay đã có Dược Quân phụ trách, Thiên Quân lại chẳng quản ngàn dặm xa xôi vời lão, chắc chắn người này tính mạng nguy cấp, thuốc thang vô phương cứu chữa, đến Dược Quân cũng phải bó tay. Lão vốn không có mấy thiện cảm với Thiên Quân hiện giờ, nhưng vốn bản thân cũng muốn để Thiên Quân nợ mình một món ân tình, thế nên vẫn theo hai tiên quân kia lên trời.

Sau khi lên Cửu Trùng Thiên, lão mới hiểu người mà Thiên Quân chẳng quản nghìn dặm xa xôi mời lão về cứu chữa, chính là con rể tương lai của nhà họ Bạch chúng ta – Dạ Hoa. Khi lão gặp Dạ Hoa, tình hình của Dạ Hoa tuy không đến mức thuốc thang vô phương cứu chữa, nhưng cũng vô cùng hiểm nghèo, toàn bộ cánh tay phải bị Thao Thiết nuốt hết, chỉ còn lại một tay áo phơ phất, tu vi trên người cũng chỉ còn một, hai vạn năm mà thôi. Kể đến đây, lão hơi thương cảm, nói: “Phu quân của ngươi tuy tuổi còn nhỏ nhưng suy tính chu toàn, nói mấy ngày trước đã dâng sớ lên lão già Thiên Quân, chính là ngày thứ hai ngươi đi Tây Hải, trong sớ nói rằng cỏ Thần Chi mọc ở Doanh Châu, Đông Hải đã vi phạm pháp chế của tiên giới ra sao, viện ra hàng loạt lý lẽ, xin Thiên Quân ân chuẩn cho hắn đi nhổ sạch cỏ Thần Chi ở Doanh Châu Đông Hải. Thiên Quân thấy rất chí lý bèn ân chuẩn. Hai ngày sau khi hắn đến Doanh Châu, tin tức báo về rằng Doanh Châu đã chìm vào Đông Hải, Thiên Quân cả mừng, lại qua một ngày nữa sau khi hắn quay về, thì thương tích nặng nề. Thiên Quân cho rằng cháu mình bị như vậy đều là do bốn con ác thú canh giữ cỏ Thần Chi làm hại, vô cùng hối hận mình đã đánh giá cao đứa cháu, lúc đầu đã không phái thêm mấy trợ thủ cho hắn. Ta cũng tưởng tu vi trên người hắn bị bốn con súc sinh đó ăn hết lúc hủy cỏ Thần Chi ở Doanh Châu. Sau này hắn giao viên tiên đan cho ta, ta mới hiểu rằng, bốn con súc sinh đó ngoài ăn mất một cánh tay của hắn, thì không được lợi nửa phân, ngược lại hắn còn một nhát kiếm chém sạch bọn chúng. Hắn tiều tụy bơ phờ như vậy là do sau khi lấy được cỏ Thần Chi lại lập tức dùng tu vi của mình để luyện đan. Ta đã đắp thuốc cho vết thương của hắn, ngươi không cần lo lắng, dần dần sẽ khỏi thôi, còn cánh tay kia là tàn phế rồi. A, mà cũng chưa hẳn tàn phế, ngươi xem cánh tay ta làm cho hắn, bây giờ tuy chưa sử dụng được nhưng sau một vạn, tám nghìn năm sẽ dần dần linh hoạt, biết đâu lại dùng được”.

Ánh trăng chiếu chênh chếch trên đầu, mặt trăng lớn tròn vành vạnh tỏa sáng lạnh lẽo biết bao.

Chiết Nhan thở dài, than: “Hắn không an tâm về ngươi, mới nhờ ta đưa viên tiên đan cho ngươi. Hắn cảm thấy hắn đã là phu quân tương lai của ngươi, những gì ngươi nợ Mặc Uyên, hắn sẽ thay ngươi trả tất cả, còn đòi ta giấu ngươi, là sợ ngươi bướng bỉnh, biết được là do hắn chia hơn một nửa tu vi để luyện thì sẽ không chịu dùng. Cũng sợ ngươi lo lắng nữa. Đâu ngờ ngươi xưa nay luôn qua loa đại khái, lần này sau khi cho Tây Hải đại hoàng tử uống tiên đan xong lại đi vào nguyên thần của y để xem xét. Có điều tính cách chuyện gì cũng một mình gánh vác của Dạ Hoa, khiến ta bội phục, quả là mạnh mẽ ngoan cường”. Rồi lão lại thở dài một tiếng, ngậm ngùi nói “Hắn mới năm vạn tuổi đã một kiếm giết chết bốn con ác thú Thao Thiết, Cùng Kỳ…, tiền đồ rộng mở. Nhưng tu vi tinh túy toàn thân, hắn nói chia là chia, đáng tiếc lắm thay”.

Cổ họng ta nghẹn lại, trái tim bỗng chùng xuống.

Chiết Nhan giữ ta ở lại, ta cảm ơn ý tốt của lão, rồi lấy ở chỗ lão mấy viên đan dược bổ khí dưỡng sinh, nhân lúc trăng sáng cưỡi mây mà đi. Dạ Hoa đã được Chiết Nhan điều trị, đúng như những gì lão khuyên nhủ ta, cho dù ta lập tức quay lại bên chàng cũng chẳng giúp được gì hơn, chỉ có thể nhìn chàng mà thôi. Nhưng cho dù ta chỉ có thể làm được một việc rất, rất nhỏ, thì ta vẫn muốn quay về bên chàng ngay lập tức.

Ta bắt quyết biến thành một con thiêu thân, bay vòng qua mấy thiên tướng và mấy con hổ canh gác Thiên Nam Môn, lần theo tuyến đường rất khó nhớ đã đi ban trưa, bay thẳng đến điện Tử Thần của Dạ Hoa.

Điện Tử Thần của chàng được sơn màu đen, khi ta chạm đất, chẳng may va phải một chiếc ghế. Chiếc ghế vừa “cạch” một tiếng, cả tòa điện đã sáng trưng lên. Dạ Hoa mặc một chiếc áo bào lụa trắng, ngồi dựa vào thành giường, ánh mắt nhìn ta vô cùng sâu xa khó hiểu. Ta mới chỉ thấy chàng lúc mặc áo bào màu đen và lúc không mặc quần áo, giờ chàng mặc một chiếc áo bào lụa trắng mỏng manh này, hừ, đẹp không tả xiết, mái tóc đen như mun buông xõa, hừ, cũng đẹp không thể tả xiết.

Chàng nhìn ta chằm chằm một lát, rồi nhíu mày hỏi: “Không phải nàng đang chăm sóc Tây Hải đại hoàng tử ở Tây Hải sao? Sao nửa đêm canh ba lại vội vội vàng vàng chạy đến phòng ta, chẳng nhẽ Điệp Ung xảy ra chuyện gì sao?”. Dáng vẻ nhíu mày của chàng, vẫn rất đẹp.

Ta cười khan hai tiếng, thong thả nói: “Điệp Ung không sao, việc của ta ở Tây Hải xong rồi, nhớ đến vết thương trên tay chàng, sợ chàng đến cầm chén rót trà cũng không vững, nên ta tới đây chăm sóc chàng”.

Dạ Hoa, chàng đã mất công giấu ta, không muốn ta lo lắng, để chàng yên tâm, ta cảm thấy mình vẫn nên tiếp tục giả vờ không biết gì là hơn.

Chàng lại nhìn ta càng khó hiểu hơn, rồi mỉm cười, ngồi dịch qua một bên giường, nói: “Thiển Thiển, nàng qua đây”.

Giọng chàng rất trầm, dái tai ta đỏ ửng lên, ho khẽ nói: “Không được sao? Ta đến chỗ cục bột ở lại cùng nó, chàng cứ yên tâm nghỉ ngơi đi, ngày mai ta lại đến thăm chàng”, nói đoạn quay người bước đi. Nhưng chưa ra khỏi phòng Dạ Hoa, trong điện lại vụt tối thui. Chân ta còn chưa thu về kịp, theo đà lại va vào chiếc ghế.

Dạ Hoa ở phía sau ôm lấy ta. Chàng nói: “Bây giờ ta chỉ có dùng một tay để ôm nàng, nếu nàng không muốn thì có thể gỡ ra”.

Trước đây mẹ ta từng dạy ta khi đi làm dâu phải như thế nào, nói đến chuyện trong khuê phòng của hai vợ chồng, đặc biệt nhấn mạnh chuyện này. Mẹ nói con gái lúc mới làm vợ, khi phu quân đòi hỏi, phải theo truyền thống mà từ chối nhẹ nhàng khéo léo, thể hiện được sự giữ gìn khép nép của con gái.

Ta cảm thấy cái ho ban nãy của ta, đã thể hiện ý từ chối một cách khéo léo, nhưng rõ ràng là Dạ Hoa không thèm để ý. Nhưng buồn thay mẹ ta lại không hề dạy ta rằng khi phu quân không chấp nhận sự từ chối khéo léo của vợ, thì người con gái phải làm thế nào mới thể hiện được sự giữ gìn khép nép.

Mái tóc buông xõa của Dạ Hoa cọ vào dái tai ta nhột nhột, ta bối rối chẳng biết làm sao, lặng im quay sang ôm lấy chàng, nói: “Ta chỉ chiếm một nửa cái giường của chàng, được không?”.

Chàng ho nhẹ một cái, cười nói: “Tầm vóc của nàng cũng không thể chiếm được nửa cái giường của ta”.

Ta ngượng ngập đẩy chàng ra, rồi mò mò đến mép giường, ngẫm nghĩ rồi cởi áo, tung chăn chui vào. Ta cuộn mình trong một góc giường, cuốn chăn quanh người, đợi Dạ Hoa lên giường, lại cuộn mình nhích vào bên trong. Chàng quờ quạng kéo ta, kéo chăn của ta ra, túm được một góc chăn rồi kéo về phía chàng. Nhưng chiếc chăn này hơi nhỏ, chàng vừa kéo một cái đã kéo tuột hết chăn của ta. Tuy giờ là đêm hè tháng bảy, nhưng trên Cửu Trùng Thiên vẫn rất lạnh, ta lại cởi áo khoác ngoài, nếu cứ như vậy ngủ suốt đêm, ngày mai chắc chắn không phải ta chăm sóc Dạ Hoa, mà là chàng sẽ phải chăm sóc ta.

Mất thể diện cũng chẳng sao, ta nhích lại gần chàng một chút, lại nhích thêm một chút. Chàng nằm sát mép giường, ta lại nhích qua tiếp. Ta liên tiếp nhích sang ba lần, nhưng đến mép chăn mà vẫn chưa chạm đến, đành tiếp tục nhích sang nữa, chàng liền quay người lại, thành ra ta nằm gọn trong lòng chàng. Chàng dùng tay trái ôm lấy ta, nói: “Đêm nay nàng nằm yên trong lòng ta đắp chăn ngủ, hay là nằm trong góc tường không đắp chăn ngủ?”.

Ta sững người, nói: “Hai chúng ta có thể cùng nằm trong góc tường đắp chăn ngủ”. Ta thấy mình chưa kịp suy nghĩ đã nói.

Chàng ôm lấy ta khẽ cười: “Ý này rất hay”.

Đêm nay, chúng ta giống như một đôi chim liền cánh, ôm nhau nằm trong góc tường ngủ say.

Tuy rằng ôm nhau, ta dựa vào lồng ngực Dạ Hoa nhưng ngủ vẫn rất ngon. Trong khi mơ màng hình như nghe thấy chàng nói, nàng biết cả rồi à, tính cách của nàng quả vẫn như trước đây, không chịu nợ ân tình người khác. Chàng nói không sai, xưa nay ta không thích nợ ân tình của ai, nên trong lúc mơ màng đã nói đồng ý với chàng, Nhưng vì ta thấy chàng cũng mơ màng ngủ say, nên cũng không nhớ đã đồng ý với chàng điều gì.

Giữa đêm, bỗng nghe thấy chàng ho một tiếng, ta liền giật mình. Chàng nhẹ nhàng xuống giường, đắp chăn lại cho ta, rồi rón rén đẩy cửa bước ra ngoài. Ta chăm chú lắng nghe bên ngoài điện vang lên một tràng ho, tiếng ho cố nén xuống thật khẽ, nếu không phải loài hồ ly nhà ta tai rất thính, ta lại chăm chú lắng nghe thì cũng không thể nghe thấy âm thanh ấy. Ta sờ chỗ chàng nằm bên cạnh, trong lòng trào dâng một nỗi đau buồn khôn xiết.

Chàng ở bên ngoài một lúc mới quay lại, ta giả vờ ngủ rất giống, lúc chàng lật chăn vào nằm, không hề phát hiện ra ta đã tỉnh. Dường như ta ngửi thấy thoang thoảng mùi máu tanh, nằm sát người chàng, đoán rằng chàng đã ngủ mới lại chui vào lòng chàng, giang tay ôm lấy chàng, đau xót biết bao, rồi ta cùng dần dần thiếp đi. Sáng hôm sau tỉnh dậy, trông chàng không có vẻ gì là bệnh tật cả, khiến ta cũng ngờ rằng đêm qua chỉ là do ta quá buồn quá vui quá lo quá sợ nên đã nằm mơ mà thôi.

Nhưng ta biết rằng, đó không phải là giấc mơ.

Ta vừa ở bên Dạ Hoa vừa hơi nhớ cục bột nhỏ. Nhưng nghe nói mấy hôm nay trên Linh Sơn mở pháp hội, Phật Tổ đăng đàn thuyết pháp, giáo hóa chúng sinh, cục bột nhỏ được Thành Ngọc Nguyên Quân đưa đi xem.

Ta lo lắng Tây Thiên đất Phật, cảnh thiền sâu đậm, cục bột còn nhỏ như vậy sẽ sinh ra buồn chán. Dạ Hoa lại không nghĩ thế, nói: “Nó đi Tây Thiên chẳng qua chỉ là ăn quả ăn mía ở Linh Sơn, huống hồ còn có Thành Ngọc đi theo, đám thần tiên dưới đàn tràng đều buồn chán đến mức ngủ gật, nó cũng không buồn chán lắm đâu”. Ta nghĩ một lát, cảm thấy cũng có lý.

Khí sắc của Dạ Hoa không được tốt. Chiết Nhan nói cánh tay phải của chàng không còn dùng được, mỗi ngày ta đều chăm sóc chàng rất cẩn thận, nhưng chàng lại chẳng hề để ý. Vì chuyện chàng bị thương hết thảy thần tiên – từ thần tiên nhất phẩm đến cửu phẩm đều biết, cũng không có ai dám đem những chuyện cỏn con đến quấy nhiễu chàng, cho nên chàng cũng khá rảnh rỗi.

Ta lo lắng cho vết thương của Dạ Hoa, muốn ở gần chàng. “Nhất Lãm Phương Hoa” lại cách điện Tử Thần khá xa, không gần bằng điện Khánh Vân, hơn nữa lại là nơi phu nhân trước của Dạ Hoa ở, nên tạm thời ta ở điện Khánh Vân của cục bột nhỏ. Hình như Thiên Cung của chàng không có quy định này, nhưng châm chước ta ở chốn quê mùa Thanh Khâu xa xôi đến, nên vẫn sắp xếp giường chiếu ở chỗ điện Khánh Vân.

Mấy ngày đầu, ngày nào ta cũng dậy rất sớm, khi trời vẫn còn chưa sáng, đi một mạch sang điện Tử Thần của Dạ Hoa, giúp chàng mặc áo, cùng chàng ăn sáng. Vì mấy vạn năm nay ta không dậy sớm như vậy, nên thi thoảng cũng ngái ngủ ngáp mấy cái.

Mấy hôm sau, có một hôm ta đang cố gắng tỉnh ngủ, trong lúc lơ mơ định vội vàng chạy qua điện Tử Thần, thì vừa mở mắt đã thấy Dạ Hoa đang nửa nằm nửa ngồi bên cạnh ta đọc sách rồi.

Đầu ta gối lên cánh tay phải bất động của chàng, cánh tay trái đang cầm một cuốn bản đồ tác chiến, nhìn thấy ta đã tỉnh, chàng lật sang trang, nói: “Trời vẫn chưa sáng, nàng ngủ thêm đi, đến giờ Thìn ta sẽ gọi nàng dậy”.

Nói ra thật xấu hổ, từ đó, ta không cần ngày ngày dậy sớm đến điện của chàng, mà mỗi sáng sớm chàng đến điện của cục bột nhỏ, bữa sáng đương nhiên cũng chuyển từ điện Tử Thần sang điện Khánh Vân.

Những ngày ở Thiên Cung này không giống với những ngày ở Thanh Khâu, ở Thanh Khâu sau khi ăn sáng đều đi dạo, đi dạo xong thì cùng về thư phòng, trong thư phòng pha hai bình trà, chàng làm việc của chàng, ta làm việc của ta, đến đêm thì chong đèn đánh mấy ván cờ.

Dược Quân thi thoảng qua qua lại lại Tẩy Ngô cung, lúc ta ở đó, ông ta hầu hết chẳng nói được gì. Nhìn thấy ông ta là ta lại nhớ đến vết thương trên người Dạ Hoa, vì thế ta chẳng muốn gặp ông ta chút nào. Ngoại trừ điều đó, hết thảy ta đều vừa ý cả. Ta sống đến ngần này tuổi, những chuyện thuở nhỏ nay đã không còn nhớ rõ, nhưng vẫn còn có thể phân biệt được, cho dù là những năm tháng ở bên Ly Kính cũng chưa bao giờ có cảm giác hạnh phúc như bây giờ.

Tuy ta tuổi có cao một chút, khi còn thiếu nữ tuy hoa đào ít ỏi, chẳng có ôm ấp mối tình giống như trong thơ, đến nay, cảm nhận được xúc động của tình yêu, thi thoảng cũng muốn cùng Dạ Hoa “Dưới trăng trước hoa”(41) một phen. Nhưng vị trí của Tẩy Ngô cung còn cao hơn trăng rất nhiều, nếu muốn ngắm trăng thì chỉ có thể không ngừng nhìn xuống chân, hơn nữa phải may mắn lắm mới nhìn thấy, chứ đừng mong ánh trăng dịu dàng dát trên người chúng ta, tạo nên khung cảnh mông lung huyền ảo, cho nên đành nuốt hận mà thôi. May mà trong lúc đi dạo cùng Dạ Hoa, cũng có thể ngắm hoa cỏ, miễn cưỡng cũng coi là “trước hoa” được mấy lần.

Lúc trước ở Thanh Khâu, hễ sáng sớm là bị Dạ Hoa lôi đi dạo, đi vòng quanh đầm nước, rừng trúc gần động Hồ Ly mấy vòng, hầu hết là chàng hỏi ta bữa trưa muốn ăn gì, chúng ta cứ bàn tới bàn lui, khi đi đến nhà tranh của Mê Cốc, thì tiện thể bảo Mê Cốc chuẩn bị ít thức ăn tươi.

Còn ở trên Thiên Cung, bữa cơm chẳng cần Dạ Hoa nhọc công, chàng cũng không có sở thích nào khác, may mà lúc đi dạo nghe ta kể những chuyện đã đọc được. Xưa nay ta đọc những truyện đó là để giết thời gian, đọc hết quyển này đến quyển khác, đến bây giờ không còn nhớ tên của các tiểu thư, thư sinh, chỉ nhớ mang máng là chuyện gì.

Nhưng Dạ Hoa lại rất thích thú, ta đọc lại những cuốn sách này cố gắng nhớ thật kỹ, để ngày hôm sau có thể kể cho chàng nghe. Mấy hôm sau, tự ta cũng cảm thấy mình có năng khiếu đọc sách.

Ngày mùng bảy tháng bảy, pháp hội trên Linh Sơn cũng kết thúc. Xem ra cục bột nhỏ cũng sắp quay về Thiên Cung rồi.

Đêm mùng bảy tháng bảy, gió mát hiu hiu, hoa quế trên cung trăng nở sớm, mùi hoa quế thơm ngát lan tỏa khắp Cửu Trùng Thiên.

Ta cùng Dạ Hoa ngồi trong một ngôi đình bên cạnh Bích Dao trì, trên nóc đình có treo mấy chiếc đèn lồng, trên mặt bàn bằng đá cũng thắp mấy ngọn đèn dầu. Tay trái Dạ Hoa cầm bút, vẽ một bức trận đồ trên đèn lồng.

Năm xưa khi ta bái sư ở Côn Luân, khi học nghệ với Mặc Uyên, môn trận pháp này đã từng học tới hai vạn năm, còn khó hơn cả môn Đạo pháp, Phật pháp, là môn hóc búa nhất trong những môn hóc búa mà ta đã từng học. Ta hễ nhìn thấy hình trận pháp là không chỉ đau đầu, mà còn đau toàn thân, cho nên chỉ đứng bên cạnh thưởng thức tài nghệ của Dạ Hoa, làm điệu bộ mỹ nhân nhắm mắt dưỡng thần mà thôi.

Vừa mới nhắm mắt liền nghe thấy tiếng cục bột lanh lảnh gọi ta từ xa: “Mẫu thân, mẫu thân”.

Ta đứng dậy nhìn, quả đúng là cục bột.

Nó mặc một chiếc áo màu xanh ngọc bích, đôi tay nhỏ đang giữ một tay nải trên vai trái, tay nải đó nhìn có vẻ rất nặng. Nó khoác tay nải chạy xiêu xiêu vẹo vẹo, Dạ Hoa ngừng bút, đi đến bên bậc thềm nhìn nó, ta cũng ngưng dáng vẻ mỹ nhân dưỡng thần nhìn nó. Nó chạy lại gần chừng trăm bước, miệng gọi to mẫu thân, ta liền đáp lời. Nó từ từ hạ thân hình mũm mĩm ngồi xuống, rồi cẩn thận gỡ tay nải trên vai đặt xuống đất, giơ cánh tay bé nhỏ lên vừa lau mồ hôi vừa liến láu: “Mẫu thân, mẫu thân, A Ly mang mía trên Linh Sơn về cho người đây, là A Ly tự tay chặt đó…”, nghĩ gì đó lại nói, “A Ly toàn chọn những cây to nhất để chặt, hi hi hi”, cười xong thì quay người bụm miệng, cố hết sức kéo tay nải kia nhích từng bước đến chỗ chúng ta.

Ta định qua đó giúp nó, nhưng bị Dạ Hoa ngăn lại: “Kệ nó kéo một mình đi”.

Sự chú ý của ta dồn cả vào cục bột, nên không để ý sau bụi hoa vô danh đột nhiên lộ ra một bóng người. Trong tay bóng người này cũng có một tay nải, so ra còn nhỏ hơn nhiều tay nải của cục bột.

Hắn rảo bước đến trước mặt chúng ta, dưới ánh sáng nhàn nhạt của đèn lồng, khuôn mặt thư sinh trắng trẻo đờ ra.

Cục bột nhỏ tiến lên phía trước, nói: “Thành Ngọc, Thành Ngọc, đây là mẫu thân của ta, ngươi xem, mẫu thân ta rất đẹp phải không?”.

Hóa ra tên thư sinh mặt trắng kia là chính là Thành Ngọc Nguyên Quân – kẻ rất giỏi trò vuốt râu cọp, chuyên bày ra những trò to gan lớn mật.

Thành Ngọc đờ đẫn nhìn ta, nhìn một lúc lâu, mới giơ tay ra nhéo vào đùi mình, đau đến mức xuýt xoa, trong lúc xuýt xoa, hắn bật ra một câu: “Quân thượng, tiểu tiên có thể sờ vào nương nương một cái được không?”.

Dạ Hoa ho một cái. Còn ta sững sờ.

Tuy Thành Ngọc mặc áo choàng rộng, mặc đồ nam giới, nhưng giọng nói lại “nhão nhoét”, trước ngực cũng phập phồng, nhấp nhô, chẳng giống nam tử chút nào. Theo kinh nghiệm sáng suốt của bản thượng thần đã nhiều năm giả nam, thì Thành Ngọc Nguyên Quân này hẳn là một nữ nguyên quân.

Dạ Hoa còn chưa nói gì, cục bột đã nhảy dựng lên, chắn trước mặt ta, vênh mặt nói: “Cái tính vừa nhìn thấy gì lạ là muốn sờ một cái của ngươi còn chưa bị Tam gia gia của ta trị sao, mẫu thân ta là của phụ quân ta, chỉ có phụ quân ta được sờ, ngươi sờ cái gì mà sờ?”. Dạ Hoa khẽ cười một tiếng, ta ngước lên nhìn chiếc đèn lồng treo trên nóc đình.

Thành Ngọc mặt xám ngoét, ấm ức nói: “Ta đã lớn ngần này, lần đầu tiên mới nhìn thấy một nữ thượng thần. Sờ một cái cũng không được sao?”.

Cục bột nhỏ nói: “Hừ”.

Thành Ngọc tiếp tục ấm ức nói: “Ta chỉ sờ một cái thôi, chỉ một cái thôi, cũng không được sao?”.

Cục bột nhỏ tiếp tục nói: “Hừ”.

Thành Ngọc rút một chiếc khăn từ trong tay áo ra, chấm chấm nước mắt nói: “Ta tuổi trẻ, vô ý bị đưa lên Thiên Đình làm thần tiên, ngày ngày bị tam điện hạ sai bảo, bao năm qua thê thảm biết bao, ta cũng chẳng dám trông mong gì, nguyện vọng bình sinh chỉ là, khi gặp một nữ thượng thần có thể chạm một cái, ý nghĩ nhỏ nhoi này cũng không thể thỏa nguyện, Ti Mệnh thật tàn nhẫn với ta”.

Dáng vẻ buồn bã của nàng ta đúng là như cha chết mẹ chết. Ta bỗng “à” ra, vị Tam điện hạ mà nàng ta nhắc đến, chính là Tam gia gia mà cục bột nói, tức là đệ đệ của Tang Tịch, tam thúc của Dạ Hoa – Liên Tống Quân.

Cục bột nhỏ nhệch miệng, hết nhìn ta lại nhìn phụ quân nó, mãi lâu sai cuối cùng mới nói: “Được rồi, ngươi sờ đi, nhưng chỉ cho sờ một cái thôi”.

Dạ Hoa lườm Thành Ngọc một cái, quay lại với bức họa trên bàn đá, nhấc bút lên khẽ nói: “Dám trêu ghẹo vợ ta, lừa gạt con ta trước mặt ta, Thành Ngọc, gần đây ngươi càng ngày càng tiến bộ đấy”.

Thành Ngọc đang hí hửng giơ tay lên, còn chưa chạm vào vạt áo ta, đã vội buông tay xuống.

Cục bột nhỏ kéo tay nải nặng trịch kia vào trong đình, rồi mở ra, quả nhiên là mía đã chặt thành từng tấm. Nó chọn ra một tấm to nhất rồi đưa cho ta, sau đó lại chọn một tấm to không kém đưa cho phụ quân nó. Nhưng tay trái Dạ Hoa đang cầm bút, tay phải đã hỏng rồi, nên không thể cầm lấy.

Cục bột nhỏ chạy qua, kiễng chân ôm lấy cánh tay phải không còn tri giác của Dạ Hoa, chun mũi sụt sịt, hai giọt nước mắt long lanh lăn xuống, rồi òa lên: “Tay phụ quân không khỏi sao, bao giờ thì phụ quân mới có thể bế A Ly đây”.

Sống mũi ta cay cay. Chiết Nhan nói cánh tay của chàng một vạn, tám nghìn năm nữa mới có thể khỏi, chàng đang giấu cục bột, đang giấu ta, muốn ra sao thì ra thế ấy, cũng không thèm coi trọng. Ta vì phối hợp diễn xuất với chàng, nên cũng đành không coi trọng. Nhưng trong lòng ta vẫn canh cánh chuyện này, có điều ván đã đóng thuyền, đau buồn hơn nữa cũng không giải quyết được, ta thầm tính toán, từ giờ về sau, ta sẽ là cánh tay phải của chàng.

Dạ Hoa đặt bút xuống, một tay giang ra ôm lấy cục bột, nói: “Ta chỉ cần một tay vẫn ôm được con, con trai không nên hơi tý là rơi nước mắt, sẽ ra thể thống gì”. Ánh mắt lướt qua ta, nửa cười nửa không: “Tuy ta luôn cảm thấy mỹ nhân u sầu có vẻ đẹp rất riêng, nhưng nàng u sầu thế này nhìn khổ sở quá. Mấy hôm trước ta cảm thấy cánh tay này đã có chút tri giác, nàng chớ nên lo lắng”.

Ta thầm than một tiếng, ngoài mặt vẫn tỏ ra vui mừng, nói: “Ta đương nhiên biết rằng cánh tay của chàng không lâu nữa sẽ khỏi, nhưng không biết sau khi khỏi rồi có linh hoạt như xưa không. Chàng vẽ rất đẹp, nếu vì thế mà không vẽ nữa, sau này ta và cục bột nhỏ muốn vẽ tranh lại phải phiền đến người khác, thì không được tiện cho lắm”.

Chàng cúi đầu khẽ cười, buông cục bột ra rồi nói: “Tay trái ta còn linh hoạt hơn tay phải, cho dù tay phải không khỏi thì cũng không sao. Nhưng bây giờ vẽ luôn cho nàng một bức có được không?”.

Ta nhếch môi cười. Quả không hổ là người được Thiên Quân chọn để kế vị, ngoài đánh giết ra, chàng còn có bản lĩnh này.

Thành Ngọc đứng im thin thít từ nãy giờ lập tức xí xớn bước tới, nói: “Nương nương phong thái trác việt, họa sĩ tầm thường đâu dám hạ bút, e rằng chỉ có quân thượng mới có thể vẽ lại được tiên thế của nương nương, tiểu tiên đi trước lấy bút mực, giá vẽ cho quân thượng”.

Mấy câu nói này của Thành Ngọc thật làm người ta vui vẻ, ta liền đồng ý.

Thành Ngọc chạy tới chạy lui như một cơn gió mang bút mực giấy nghiên, giá vẽ về, theo ý của Dạ Hoa, ta ôm cục bột nhỏ ngồi nghiêng nghiêng, thấy Thành Ngọc ngồi không bên cạnh, nên cũng gọi nàng ấy qua, ngồi xuống bên cạnh ta, để Dạ Hoa nhân thể vẽ cho nàng ấy một bức.

Cục bột nhỏ nép trong lòng ta vặn vẹo mấy cái.

Dạ Hoa mỉm cười nhíu mày, không nói gì, lúc hạ bút còn khẽ cười với ta một cái, nụ cười này của chàng phản chiếu nền trời đen thăm thẳm sau lưng chàng, ánh nến bập bùng, giống như ánh sáng từ ba nghìn thế giới hội tụ, lòng ta hễ xao động là dái tai đã nóng bừng.

Cho dù tay phải không thể cử động, nhưng tư thế vẽ của chàng vẫn rất đẹp mắt, tự nhiên. Ta tự cảm thấy con mắt chọn chồng của mình quả không tồi chút nào.

Lúc hoàn thành bức tranh, ta thấy chưa mất một canh giờ, cục bột nhỏ đã ngủ say trong lòng ta. Thành Ngọc chạy qua nhìn, chỉ dám than mà không dám giận, miệng méo xệch: “Tiểu tiên ngồi bao lâu như thế, quân thượng thánh minh, xấu đẹp gì cũng phải vẽ một góc áo của tiểu tiên chứ”.

Ta ôm cục bột nhỏ cũng bước qua xem sao.

Bức tranh do Dạ Hoa dùng tay trái vẽ, cũng đẹp chẳng kém so với dùng tay phải. Nếu để nhị ca ta biết được tài năng này của chàng, hẳn sẽ coi chàng là tri kỷ.

Ta cử động làm cục bột tỉnh dậy, chớp chớp mắt rồi từ trên đầu gối ta nhảy xuống. Nó nhìn bức tranh, chậc chậc hai tiếng hỏi: “Thành Ngọc, sao không có ngươi?”.

Thành Ngọc ai oán liếc nó một cái.

Ta thấy Thành Ngọc đáng thương, vỗ vỗ lên vai nàng ấy, an ủi: “Mấy hôm nay thể lực của Dạ Hoa có suy giảm một chút, vẽ bằng một tay đã đủ mệt rồi, ngươi nên thông cảm cho chàng”.

Tay phải Thành Ngọc bưng miệng, khụ khụ: “Thể, thể lực suy giảm”.

Động tác nhúng bút vào chậu rửa bút của Dạ Hoa khựng lại, ta nhìn thấy cây bút lông thỏ cán bạch ngọc trong tay chàng gãy làm đôi.

Khụ khụ, nói sai rồi.

Cục bột nhỏ ngây ngô nhìn Thành Ngọc, chất giọng non nớt cất lên: “Thể lực suy giảm là ý gì? Có phải tuy phụ quân ôm được A Ly nhưng lại không ôm được mẫu thân không?”. Ta cười ha ha hai tiếng, lùi về sau một bước. Chân còn chưa chạm đất, trời đất đã xoay mòng mòng. Sau khi ta định thần lại thì người đã bị Dạ Hoa vác trên vai.

Ta kinh ngạc.

Chàng nhẹ nhàng dặn dò Thành Ngọc: “Thu dọn những thứ trên bàn, ngươi đưa A Ly về điện của nó nghỉ ngơi”.

Thành Ngọc rũ tay áo thưa “vâng”, cục bột nhỏ đưa hai tay bịt mắt, lại kêu lên “đồ háo sắc, đồ háo sắc” với chàng, Thành Ngọc vội vàng đưa tay ra bịt miệng cục bột nhỏ.

Năm vạn năm trước khi ta và Tang Tịch đính ước, cha mẹ dạy ta cách làm dâu là phải theo Thiên Cung, nhưng khi cùng Dạ Hoa thì lại chẳng hề theo quy định của Thiên Cung, trước đây cùng Ly Kính vì tuổi nhỏ trong sáng, những chuyện trong khuê phòng chưa hề dám làm gì, ta đắn đo trong lòng, cảm thấy chuyện đã như thế này, thì chỉ có thể theo tập tục của Thanh Khâu nhà ta.

Tam ca Bạch Kỳ của ta từng viết một bài hát, rằng: “Muội muội cứ can đảm đi về phía trước, nhắm chuẩn rồi lập tức ra tay, dùng dây thừng mà trói, dùng cần câu mà câu, nếu muội chỉ chậm một chút, thì ca ca trong lòng đã bị người khác bắt đi rồi”. Tam ca của ta, huynh ấy là một nhân tài, bài hát đó tuy giản dị nhưng đã phản ánh được phong tục của Thanh Khâu nhà ta.

Ánh đèn vàng nhạt chiếu khắp cung phản chiếu bóng ta và Dạ Hoa hòa làm một, chàng sải bước rất nhanh, ta nằm sấp trên vai chàng, nhìn thấy sắp ngoặt ra khỏi hành lang, rẽ sang Tẩy Ngô cung, đầu óc ta choáng váng mụ mị, nói: “Thiên Cung nhà chàng luôn để ý tới thể thống, chàng vác ta như thế này, còn ra thể thống gì nữa?”.

Chàng cúi đầu khẽ cười, đáp: “Lúc nào cũng để ý đến thể thống, khó tránh sẽ mất nhiều hứng thú, thi thoảng ta cũng muốn không cần để ý thể thống một phen”.

Thế là hai người chúng ta đã rẽ sang điện Tử Thần của chàng một cách cực kỳ không ra thể thống như vậy. Một tay chàng vác bản thượng thần vừa bất tài vừa “lớn xác”, bước đi vững vàng, không hề thở dốc lấy một hơi. Tiểu tiên nga trong điện của chàng thấy vậy liền hiểu ý lui ra, bước cuối cùng hai gò má nàng ta đỏ ửng cả lên, giúp chúng ta đóng cửa lớn lại.

Việc ta và Dạ Hoa làm hết sức đường hoàng, tiểu tiên nga này đỏ mặt hẳn do chưa từng trải mà thôi.

Lần trước ở Thủy Tinh cung ở Tây Hải, Dạ Hoa hết sức dịu dàng, tinh tế, chẳng hiểu vì sao đêm nay, ôi, chàng lại hơi thô bạo.

Chàng thả ta xuống giường, đầu ta gối lên cánh tay phải của chàng, tay trái chàng ôm ghì lấy ta, tìm đôi môi ta, khẽ cười cắn lấy một cái. Tuy rằng không đau, nhưng ta cảm thấy không thể để chàng được lợi, định bụng sẽ cắn trả, thì bờ môi chàng đã lướt đến tai ta.

Dái tai bị miệng chàng ngậm chặt, mút đi mút lại, bị mút đến phát đau, chàng lại cắn khẽ một cái nữa, một cảm giác tê giật lập tức chạy dọc toàn thân ta, ta nghe thấy mình thở hổn hển nhỏ như tiếng muỗi.

Giữa tiếng thở hổn hển của ta, môi chàng dần dần trượt xuống dưới, chẳng may lại gặp vật cản, chính là chiếc váy đỏ trên mình ta. Đây là chiếc váy mà khi xưa ta còn nhỏ, lúc về động Hồ Ly nhị tẩu đã tặng ta, nói là đồ quý dùng thứ tơ gì đó dệt thành. Đối với kẻ hiểu biết nông cạn như ta, chỉ biết rằng chiếc váy này mặc vào đã khó, cởi ra càng khó hơn. Lần này chàng chỉ có một cánh tay còn cử động được, lại cởi chiếc váy vô cùng khó cởi của ta một cách suôn sẻ, trong nháy mắt ta thấy chiếc váy vừa nãy còn bận trên người ta, chàng chỉ cần vung tay lên một cái đã rơi xuống đất.

Chàng cởi xiêm y của ta dễ dàng như vậy, nhưng đến lúc cởi y phục của mình lại lóng nga lóng ngóng. Ta nhìn không thuận mắt, bèn đứng dậy giúp chàng, chàng chỉ cười một tiếng. Tay ta giơ lên cởi áo choàng của chàng, chàng liền sáp đến, đôi môi du ngoạn trên cổ ta, ta chẳng thể làm gì được, tay cũng mềm nhũn, đành cố gắng kéo y phục của chàng ra.

Ta không thể không khâm phục bản thân, kéo kéo co co như vậy cũng cởi được y phục của chàng.

Chàng vùi đầu vào lồng ngực ta, mút mát vết sẹo trên ngực. Vết sẹo ấy đã lành được hơn năm trăm năm, vốn đã chẳng còn cảm giác gì, nhưng khi chàng hôn lên đó, không hiểu tại sao, từ đầu đến chân ta bỗng mềm đi, trái tim giống như bị mèo cào, không rõ là cảm xúc gì, chỉ cảm thấy vô cùng khó chịu. Hai tay ta vòng lên ôm cổ chàng, mái tóc đen nhánh của chàng buông xõa, xổ trên tay ta, hễ cử động là tóc lại quét nhẹ vào tay, ta ngẩng đầu lên hổn hển. Chàng ghé sát tai ta, thì thầm: “Khó chịu à?” Tuy hỏi ta dịu dàng, âu yếm là vậy, nhưng tay lại mơn man vuốt dọc sống lưng ta.

Bình thường, tay của chàng luôn lạnh giá, nhưng giờ đây lại nóng hừng hực. Ta cảm thấy những nơi bị chàng mơn trớn, tựa như quả dầu mới vớt ra khỏi nồi, mềm tới mức chỉ cần cắn một cái là có thể vỡ vụn ra. Đôi môi chàng lại trượt xuống cằm ta, day nhẹ từng chút, từng chút một. Ta mím môi ngăn tiếng thở càng lúc càng dốc, cảm thấy có thứ gì đó trong cơ thể đang đâm chồi nảy lộc nhanh chóng, nháy mắt đã biến thành đại thụ chọc trời.

Cái cây ấy muốn quấn thật chặt người đang ôm ta.

Đôi môi chàng men theo cằm di chuyển đến miệng ta, nhẹ nhàng hôn lên đó, lại cắn môi dưới của ta, tách răng của ta ra. Ta bị chàng quấy rầy không chịu nổi, dứt khoát hôn lại một cách dữ dội, ra tay trước là kẻ mạnh, đẩy lưỡi vào khoang miệng của chàng. Chàng sửng sốt giây lát, tay luồn qua sau eo ta, bấu mạnh một cái, ta bị kích thích đến mức run lên, đầu lưỡi quên cả chuyển động, đến khi phản ứng lại, đã bị lưỡi chàng đi vào trong miệng…

Quấn quấn quýt quýt khiến ta rạo rực vô cùng, nhưng không hiểu chàng định tiếp tục màn dạo đầu này đến lúc nào, đến khi lưỡi chàng đi ra khỏi miệng ta, ta không kìm được thôi thúc nói: “Chàng… chàng mau lên”, lời vừa nói ra, âm thanh nũng nịu đó khiến ta giật thót mình.

Chàng lặng người, cười đáp: “Tay của ta không cử động được, Thiển Thiển, nàng nhích lên chút đi”.

Giọng nói trầm trầm của chàng dễ nghe biết bao, ta ngây ngất đến mức đầu óc trở nên mụ mị, liền làm theo lời chàng, nhích lên trên một chút.

Khi chàng đi vào, ta ôm lấy cánh tay của chàng không thể kìm chế, móng tay bấu mạnh vào da thịt, chàng kêu “hừ” một tiếng, rồi lại ghé sát tai ta hổn hển thở: “Ngày mai ta sẽ sửa móng tay cho nàng”.

Khi trước lúc bày trò bói toán ở trần gian, lúc vắng khách, ngoài đọc truyện ra, thỉnh thoảng ta cũng đọc sách vở chính thống. Trong một cuốn sách kinh điển có nhắc đến câu “phát hồ tình, chỉ hồ lễ”, ý nói tình yêu có thể nảy sinh từ tình lý, nhưng phải biết nương theo đạo đức lễ nghi mà dừng lại. Thập sư huynh cùng ta mở hàng bói lúc đó cảm thấy, người đề ra quan điểm này bị điên, ta rất tán đồng với huynh ấy. Bản thượng thần sống một vạn tám nghìn năm mới có một đóa hoa đào, nếu lúc nào cũng phải khắc chế bản thân, thì đúng là tự ngược đãi mình.

Xong chuyện ta tựa vào lòng Dạ Hoa, còn chàng nghiêng mình nghịch mấy lọn tóc của ta, không biết đang nghĩ những gì. Ta cảm thấy đầu óc mình vẫn mụ mị như cũ.

Mụ mị một lúc, rồi lại mơ mơ màng màng, bỗng nhớ ra một chuyện rất quan trọng.

A di đà Phật, tứ ca nói cũng không hoàn toàn sai, ta một vạn tám ngàn năm mới được yêu, thực sự phải điên dại một lần. Ta lên Cửu Trùng Thiên chăm sóc Dạ Hoa lâu như thế, vậy mà lại quên béng mất chuyện định hễ gặp chàng là nói với chàng ngay.

Ta vừa trở mình lại ép ngay lên ngực Dạ Hoa, mắt đối mắt với chàng, ta hỏi: “Chàng còn nhớ lúc ở Tây Hải thiếp nói muốn từ hôn với chàng không?”.

Chàng cứng người, cụp mắt xuống nói: “Còn nhớ”.

Ta hôn chàng, day chóp mũi mình lên chóp mũi chàng, nói: “Khi ấy, thiếp còn chưa nhìn thấu lòng mình, câu nói đó chàng đừng để tâm, bây giờ hai ta tình nồng ý đượm, đương nhiên không thể từ hôn. Khi ở Tây Hải, rảnh rỗi quá nên ta có xem ngày, ngày mùng hai tháng chín nên cưới gả, động thổ, giết mổ, cúng tế, tóm lại là ngày lành tháng tốt, chàng xem có nên nói với ông nội chàng, ngày mùng hai tháng chín này tổ chức hôn lễ không?”.

Chàng bỗng mở choàng mắt, trong đôi con ngươi đen lay láy phản chiếu nửa khuôn mặt ta, rất lâu sau, mới nghèn nghẹn giọng nói: “Nàng vừa nói gì?”.

Ta thầm điểm lại những gì đã qua trong lòng, cảm thấy không nói gì đặc biệt cả, a, có lẽ theo quy củ Thiên Cung phải do Dạ Hoa tìm Thiên Quân bàn bạc ngày cưới, lại không hợp với thể thống sao?

Ta ngẫm nghĩ, bèn tiến tới áp sát mặt chàng: “Là thiếp suy nghĩ không chu đáo, chuyện này để chàng làm thì không trịnh trọng cho lắm, nếu không thiếp đi tìm cha mẹ thiếp, rốt cuộc chúng ta thành hôn vẫn là chuyện trọng đại, phải do người lớn trong nhà nói ra mới phải lẽ”.

Khi ta nói xong, cơ thể bỗng bị xiết mạnh một cái, ta khẽ rên một tiếng. Chàng ôm ta vào lòng, lại một lúc sau mới nói: “Nàng nói lại lần nữa, nàng muốn cùng ta thế nào?”.

Ta sững người. Ta muốn cùng chàng thế nào? Chẳng phải ban nãy vừa nói rõ lắm sao? Đang định cất tiếng trả lời chàng một lần nữa thì ta chợt hiểu ra. Khụ khụ, Dạ Hoa, chàng định bắt ta tỏ tình sao?

Những sợi tóc đen như mun của chàng xõa ra, quấn lấy ta, đôi mắt đen thăm thẳm như đầm sâu, hương hoa đào ngan ngát trong màn, giường, gương mặt ta đỏ bừng, những lời đè nén trong lòng không hiểu bị thứ gì mê hoặc, sểnh chút là đã nói tuột ra khỏi miệng. Ta nói: “Thiếp yêu chàng, thiếp muốn lúc nào cũng được ở bên chàng”.

Chàng không nói gì.

Con gái Thanh Khâu chúng ta luôn thẳng thắn như vậy, một là một, hai là hai, nhưng Dạ Hoa từ nhỏ đã lớn lên trên Cửu Trùng Thiên, chẳng nhẽ lại chê câu nói của ta phóng túng mà chối bỏ sao?

Ta đang suy nghĩ rất lung, chàng lặng im một lát nữa, đột nhiên trở mình ép ta xuống dưới, toàn cơ thể phủ phục lên mình ta. Ta ôm lấy tấm lưng nhẵn mịn của chàng, cả cơ thể bị chàng quấn lấy thật chặt, thật sát. Chàng cắn lên dái tai ta, khẽ nói: “Thiển Thiển, sinh thêm cho ta một đứa con nữa nhé”. Ta chỉ cảm thấy “đùng” một tiếng, máu huyết toàn thân như dồn ngược lên tai, tai nóng rừng rực. Ta cảm thấy câu này có điểm gì đó không đúng, nhưng nhất thời chưa nghĩ ra điểm nào không đúng.

Cả đêm chìm chìm nổi nổi, tầm mặt trời bắt đầu mọc mới thiếp đi. Lần đầu tiên trong đời ta biết mùi vị đêm xuân ngắn ngủi là thế nào.

Khi tỉnh lại, trong điện vẫn còn tối, Dạ Hoa đã say giấc nồng. Hễ tỉnh dậy là có thể nhìn thấy chàng như thế này, thật hạnh phúc biết bao.

Ta khẽ rướn người lên để ngắm thật kỹ khuôn mặt chàng. Khuôn mặt chàng giống Mặc Uyên nhưng ta chưa bao giờ nhận nhầm chàng là Mặc Uyên, giờ đây nhìn kỹ lại có nét không giống. Ví như đôi mắt Mặc Uyên không đen thăm thẳm như mắt chàng, cũng không lạnh lùng điềm tĩnh như chàng.

Khuôn mặt của Mặc Uyên chỉ hiện diện sự trang nghiêm tột cùng, gần đây mỗi lần nhìn thấy gương mặt Dạ Hoa, ta lại cảm thấy trong tim trỗi dậy một cảm giác thật khó nói.

Ta ngắm nhìn gương mặt chàng rất lâu, sau đó cơn buồn ngủ ập đến. Ta chỉ biết chàng đang say ngủ, giở mình định ngủ tiếp thì bị chàng vươn tay ôm vào lòng. Ta giật mình, chàng vẫn nhắm mắt, nói: “Nàng cứ nhìn thêm lúc nữa, đừng ngại, nhìn mệt thì hãy nằm nép trong lòng ta một lát, góc tường không ấm áp bằng lòng ta đâu”.

Dái tai ta đỏ lựng lên, ngượng ngùng cười: “Có con muỗi đậu trên mặt chàng, thiếp đang định bắt giùm chàng, chàng vừa nói thì nó thấy động bay mất rồi”.

Chàng “à” một tiếng, nói: “Nàng vẫn còn sức bắt muỗi giúp ta”, lại bế ta lên người chàng, “Dậy rồi hay lại ngủ thêm lát nữa?”.

Một tay ta đè lên vai chàng, chú ý không đè quá mạnh, một tay sờ mũi, nói: “Ngủ thì vẫn muốn ngủ, nhưng người nhớp nháp quá, ngủ cũng không nổi, bảo họ mang hai thùng nước vào, chúng ta tắm trước đã rồi ngủ sau”.

Chàng đứng dậy với lấy áo quần rồi xuống giường, gọi tiểu tiên nga dâng nước.

Qua đêm nay, ta cảm thấy vết thương trên người Dạ Hoa đã khá lên nhiều, nên cũng an tâm hơn, thầm tính toán xem cũng đến lúc nên giảm một chút lượng thuốc bình thường vẫn lén bỏ vào trong trà của chàng.

Khi định hôn ước giữa ta và Dạ Hoa, Thiên Quân mới chỉ tặng chút quà, chứ chưa nạp sính lễ. Ta thầm tính chọn ngày để cha mẹ đến nhắc khéo Thiên Quân, giục ngài mau mau đem sính lễ, chọn ngày, đương nhiên tốt nhất vẫn là ngày mùng hai tháng chín rồi.

Hiện nay Dạ Hoa chẳng còn lại bao nhiêu tu vi, ta sợ rằng khi chàng kế ngôi Thiên Quân sẽ không chịu nổi đại nghiệp gồm chín đạo thiên lôi, tám mươi mốt đạo hoang hỏa. Từ xưa tới nay, đây là đại nghiệp mà Thiên Quân và Thiên hậu khi kế nhiệm phải cùng chịu, ta muốn chúng ta mau mau thành hôn, khi chịu đại nghiệp ta sẽ có thể chịu thay cho chàng. Với tu vi hiện giờ của ta, tuy khi phong ấn Kình Thương đã mất đi không ít nhưng một mình chịu thiên lôi hoang hỏa thì vẫn có thể chịu được. Nhưng đến lúc phải gạt Dạ Hoa như thế nào, không cho chàng ra ngoài lại là một vấn đề. Chắc chắn Dạ Hoa không dễ gạt như ta hồi còn trẻ.

Ta nghĩ rất nhiều, sau khi tắm gội lại từ từ say ngủ, cứ tưởng từng chuyện từng chuyện đang được tháo gỡ một cách suôn sẻ, nào ngờ sau khi tỉnh dậy, những lời của Dạ Hoa lại phá vỡ hết những dự tính của ta.

Chàng ôm ta vào lòng, rầu rĩ nói, mùng hai tháng chín không được rồi, đại hôn lễ của chúng ta ít nhất phải chậm trễ hai tháng nữa.

Vì hai tháng này, chàng phải xuống trần lịch kiếp.

Kiếp số này, cũng do bốn con ác thú kia mà ra.

Năm đó, sau khi cha ta bị bốn con súc sinh cắn bị thương, ta cũng hơi ghét chúng. Ban đầu ta còn tự mắng mình là nhỏ nhen, nhưng giờ lại cảm thấy, sự ghét bỏ này cũng rất có lý. Tuy Dạ Hoa vâng lệnh Thiên Quân đi hủy cỏ Thần Chi ở Doanh Châu, nhưng Thiên Quân chưa từng hạ lệnh cho chàng chém bốn con ác thú do Phụ Thần giữ lại. Bao nhiêu năm sau khi Phụ Thần về nơi hỗn độn, những bát vỡ đĩa sứt cũng được Thiên tộc đem lên Cửu Trùng Thiên cất giữ, chứ chớ có nói đến bốn con mãnh thú mà Phụ Thần rót một nửa thần lực vào chúng.

Dạ Hoa hủy cỏ Thần Chi là công lớn, chém bốn con ác thú giữ cỏ lại là tội lớn. Công chẳng bù nổi tội, cuối cùng bị trừng phạt xuống trần lịch kiếp.

May mà trong hàng triệu thế giới, lão già Thiên Quân lại chọn phàm trần cho Dạ Hoa, thời gian nơi đó không giống với thế giới thần tiên bốn bể tám cõi chúng ta. Một giờ ở chỗ chúng ta bằng một năm ở nơi đó. Nên tuy Dạ Hoa bị đày luân hồi một kiếp sáu mươi năm cũng chỉ phải xa ta có hai tháng mà thôi.

Nhưng cho dù chỉ phải xa Dạ Hoa hai tháng ta vẫn lưu luyến không nỡ. Ta không hiểu tại sao mình lại cảm thấy như vậy, nhưng suy nghĩ ấy cứ đau đáu trong lòng, vừa ngọt ngào mà lại vừa sầu thảm.

Có lẽ do ta và Dạ Hoa số chẳng hợp nhau, mới không được hưởng hạnh phúc ấm êm. Nghĩ vậy, ta thở dài một tiếng, cảm thấy buồn bã tột cùng.

Dạ Hoa nói: “Nàng có đồng ý chờ ta hai tháng không?”.

Ta bấm ngón tay tính, đáp: “Đầu tháng tám chàng xuống trần gian, nếu ở trần gian đợi hơn hai tháng, vậy ngày thành hôn dời đến tháng mười đi, tiết Tiểu dương xuân tháng mười, hoa đào hoa mận nở bung cũng là thời khắc đẹp”. Nghĩ một lát lại lo lắng nói, “Tuy với thiếp chỉ là hai tháng ngắn ngủi, nhưng với chàng lại là một đời dài lê thê, chàng đã xem qua số mệnh mà Ti Mệnh viết cho chàng chưa?”.

Số mệnh mà Ti Mệnh viết cho Nguyên Trinh lần trước, sau khi may mắn đọc được, ta không khỏi muôn phần bội phục tài hoa của hắn.

Ta nhận sự gửi gắm của Thiếu Tân, xuống phàm trần để sửa đổi một chút số mệnh của Nguyên Trinh, nhưng không được để vở kịch do Ti Mệnh khổ công sắp đặt diễn ra, không dám chắc hắn có thù ta hay không. Nếu vì thế mà hắn định trả thù lên đầu Dạ Hoa, sắp xếp một mối tình tay ba tay tư… Nghĩ thế mà ta rùng hết cả mình.

Dạ Hoa mỉm cười, hôn lên trán ta nói: “Lần này ta xuống trần, số mệnh không phải do Ti Mệnh viết, Thiên Quân bàn bạc với các vị Tôn giả, trong cuốn sổ của Ti Mệnh, trang của ta để trắng, tùy duyên ra sao, còn phụ thuộc vào tạo hóa của ta”.

Ta nhẹ nhõm một chút, để an tâm, ta vẫn dặn dò thêm: “Chuyến này chàng xuống trần lịch kiếp, cho dù uống nước Vong Xuyên trong điện của U Minh Ti Minh chủ thì cũng không được lấy người con gái khác”. Chàng không đáp lời, ta dùng dằng một lát, nói, “Thiếp chẳng lo gì, chỉ lo, chỉ lo chuyến này chàng đầu thai chuyển kiếp, rồi mấy bông hoa đào khác lại bay đến. Chàng, chàng cũng biết rằng, lòng thiếp xưa nay vốn hẹp hòi, quyết không chịu chia sẻ chàng với người khác”.

Chàng vén những sợi tóc lên bên vành tai ta, vỗ vào má ta, nói: “Bây giờ một bóng hoa đào còn chẳng có, nàng đã ghen rồi ư?”.

Ta ngượng ngùng ho hai tiếng, ta tin tưởng tình ý của Dạ Hoa, nếu đầu thai rồi chàng vẫn nhớ tới ta, tất nhiên ta không cần phòng bị trước thế này. Nhưng đám tiên giả xuống trần gian lịch kiếp, đều phải chấp hành một quy định biến thái, đó là phải uống một bát nước Vong Xuyên lớn, quên hết chuyện kiếp trước, sau khi phục vị mới có thể nhớ lại chuyện xưa.

Chàng vuốt nhẹ lên mái tóc ta, cười nói: “Nếu khi ấy ta đem đóa hoa đào về, nàng sẽ làm thế nào?”

Ta ngẫm nghĩ, cảm thấy lúc này phải nói một câu gì thật độc địa, bèn vênh mặt, làm bộ gian tà, nói: “Nếu thế, thiếp sẽ cướp chàng về Thanh Khâu, nhốt trong động Hồ Ly, ngày ngày chàng chỉ có thể ngắm một mình thiếp, lúc dùng cơm cũng chỉ có thể ngắm thiếp, lúc đọc sách cũng chỉ có thể ngắm thiếp, lúc vẽ tranh cũng chỉ có thể ngắm một mình thiếp mà thôi”.

Ánh mắt chàng rực sáng, tay rẽ mấy sợ tóc lòa xòa trước trán ta, hôn lên sống mũi ta, nghèn nghẹn nói: “Nàng nói thế, ta lại muốn nàng cướp ta về ngay bây giờ”.

Chú thích:

39. Ý chỉ tình duyên.

40. Bỉ dực điểu có nghĩa là Chim liền cánh. Chim liền cánh, cây liền cành tượng trưng cho sự thủy chung, chính vì thế tộc này mới không có lệ kết hôn với người ngoại tộc (ND).

41. “Dưới trăng trước hoa” có nghĩa bóng chỉ chuyện ái ân, nhưng nhân vật Bạch Thiển lại hiểu theo nghĩa đen là ngắm trăng thưởng hoa (ND).

05Feb/17

TAM SINH TAM THẾ – THẬP LÝ ĐÀO HOA – Hồi 19

Tình nhen tự thuở nào, mà nồng thắm không hay

Ta đứng ngây dại trong điện hồi lâu, trong lòng bỗng hơi trống rỗng.

Ta dứng dậy đến bên bàn, cầm tách trà nhấp hai ngụm, để thấm ướt cổ họng khô chát, rồi mới loạng choạng bước ra ngoài điện.

Đám tiểu thần tiên bên ngoài đã tản đi già nửa, có lẽ là đi dẫn dường cho Dạ Hoa. Một nửa còn lại đang lao xao đi về hướng cổng của chính cung Thủy Tinh cung.

Cảnh này chắc là lại có khách tới.

Ta cũng chạy theo hỏi dăm câu, vị nhân huynh đi sau cùng trả lời: “Có khách từ phương xa tới, Thủy Quân sai bọn thần đi nghênh đón”.

Xem ra hôm nay Tây Hải Thủy Quân đúng là có số đón khách, cho dù lần này là Phật Tổ từ Tây Thiên giá đáo, thì ta cũng không lấy làm lạ. Thủy Quân hai đời nay của Tây Hải đều sống rất khép kín, chẳng mấy khi được những thần tiên đời trước như chúng ta rủ lòng quan tâm, hôm nay có thể liên tiếp đón vài vị khách quý, thì cũng quá là vinh dự. Đèn Kết Phách đã ở chỗ của Dạ Hoa thì ta cũng chẳng cần phải lặn lội lên Cửu Trùng Thiên, đỡ mất công mất việc, nhưng lạ là lòng ta không cảm thấy thanh thản. Bóng dáng lẻ loi của Dạ Hoa cứ trở đi trở lại trong tâm trí ta, khiến trái tim hồ ly của ta bị bóp nghẹt từng cơn.

Lát sau hai tiểu tiên nga dẫn đường cho ta lúc trước cung kính lại dẫn ta đi về đường cũ. Vì Điệp Ung có dung mạo giống với Mặc Uyên, nên đã khiến ta ngổn ngang suy nghĩ, lúc đi qua điện Phù Anh cũng không đẩy cửa nhìn hắn, mà để tiểu tiên nga dẫn thẳng ta xuống ở tạm thời tại một căn lầu nhỏ cạnh điện Phù Anh.

Tây Hải Thủy Quân cũng có hơi kém cỏi trong việc đặt tên, kém xa với Đông Hải Thủy Quân. Ví dụ như bên trái, phải điện Phù Anh có hai tòa lầu nhỏ, một tòa lầu ở bên dưới trồng toàn hải đường nở hoa đỏ thắm, thì gọi là Hồng lâu, còn một tòa lầu ở bên dưới lại trồng chuối lá xanh ngăn ngắt, thì gọi là Thanh lâu.

Bản thượng thần bất tài, bị xếp ở ngay Thanh lâu.

Đại để không hổ với cái tên, trong tòa Thanh lâu này hết thảy vật dụng từ giường cho đến ghế đều dùng gỗ Thanh Giang, bồn hoa đặt trên những chiếc ghế thấp, ấm chén đặt trên bàn cũng dùng sứ men hoa xanh, đến đám tiên tỳ theo hầu cũng mặc áo xanh, ngẩng đầu nhìn lên, toàn một màu xanh lè, thật là nhức mắt.

Vì đám tiểu tì xanh lè đó cứ lượn qua lượn lại khiến ta chóng cả mặt, nên ta phải sai tất cả bọn chúng xuống dưới lầu nhổ cỏ.

Trong nháy mắt cả tòa nhà không một bóng người, khiến đầu óc ta lại càng trống rỗng hơn.

Đúng lúc ấy, cánh cửa sổ phía sau bỗng kêu cọt kẹt, ta ngẩng lên liếc nhìn. Haizz, hóa ra vị khách quý mà một nửa đám tiểu thần tiên của Tây Hải vội vàng chạy đi đón tiếp không phải là Phật Tổ trên đài sen của Tây Thiên rồi.

Ta rót một cốc trà nguội, chào hỏi người vừa bước vào: “Ô, tứ ca, uống trà này”.

Huynh ấy nhìn ta từ đầu tới chân, bưng chén trà lên uống một hớp, rồi cau mày hỏi: “Rõ ràng là cô nương, sao lại phải giả trai?”.

Ta ngẩng đầu nhìn xà nhà, thành thực đáp: “Là Chiết Nhan làm”.

Huynh ấy phun bắn trà ra ngoài, lấy tay áo lau khóe mép, sắc mặt vẫn không đổi, nói: “Muội như thế này trông rất đẹp”.

Tứ ca thường xuyên tới Tây Hải, đều là tìm Tây Hải nhị hoàng tử Tô Mạch Diệp uống rượu.

Lần này huynh ấy hớt hải đến đây, nghe nói không phải tìm Tô Mạch Diệp uống rượu, mà là để gặp muội muội là thượng thần ta đây.

Ban đầu huynh ấy định cùng Chiết Nhan lên Cửu Trùng Thiên tìm ta, nhưng đã bị Chiết Nhan ngăn lại. Nằm ườn trên giường cả nửa ngày mà chẳng thấy Chiết Nhan quay về, đoán rằng Chiết Nhan đã dắt thẳng ta đến Tây Hải, nên huynh ấy chạy đến đây gặp ta, nhân thể qua chào hỏi Tô Mạch Diệp.

Huynh ấy ngồi tựa lưng vào chiếc ghế bằng gỗ Thanh Giang, miệng không ngậm cây cỏ đuôi chó như mọi khi nên có lẽ không quen, đầu nghiêng nghiêng, nói: “Chẳng qua huynh đến để xem muội ở Tây Hải có ổn không, haizz, Chiết Nhan làm việc khiến người ta cũng thật an tâm. Nhưng sao sắc mặt muội lại như vậy? Trắng bệch ra, chẳng nhẽ Mặc Uyên quay về lại làm muội không vui sao?”.

Ta ngẩng đầu sờ lên mặt, làm bộ tươi cười nói: “Vui chứ, muội rất vui là đằng khác”.

Huynh ấy lại nhíu mày hỏi: “Thế sao lại mất hồn mất vía thế kia?”.

Ta day day mặt, cười khô khốc: “Chắc tại dùng truy hồn thuật, nên chưa bình thường trở lại”.

Ánh mắt huynh ấy sáng quắc, nhìn ta chăm chú.

Ta lại cười khô khốc: “Lại thêm Dạ Hoa cho muội ăn hai cục tức”.

Tứ ca nói không sai, lần này quả thực ta có chút kinh hồn bạt vía. Nhưng nguyên nhân kinh hồn bạt vía lại không phải là hai câu nói của Dạ Hoa của Cửu Trùng Thiên, mà là những khúc mắc không thể nói rõ ràng bằng một câu vừa nãy trong đại điện. Nhưng nếu nói việc này cho tứ ca hiểu, thì Chiết Nhan, Mê Cốc và cả Tất Phương đều sẽ biết.

Ở cùng Chiết Nhan đã bao lâu, riêng khoản chọc ngoáy đời tư người khác, tứ ca của ta – Bạch Chân đã luyện thành cao thủ, về khoản tung tin đồn nhảm thì lại càng “đỉnh” hơn nữa, vượt xa cả Chiết Nhan.

Ta và Dạ Hoa vì chuyện của cục bột mà cãi nhau kể ra cũng chẳng phải là tin đồn gì, không nói sợ huynh ấy sẽ quấy rầy cả buổi chiều, cũng nên nói qua loa tóm tắt câu chuyện cho huynh ấy nghe. Sau khi đã tính toán xong, ta uống trà cho ngọt giọng, rồi kể hết chuyện trên Cửu Trùng Thiên cho huynh ấy nghe.

Huynh ấy ngả mình trên ghế nhưng tai vẫn dỏng lên chăm chú nghe, đợi ta nói xong, mãi sau mới ngẩng đầu lên nhìn ta cười một cách rất kỳ dị, nói: “Xưa nay muội vẫn luôn cho mình tuổi tác cao, vai vế lớn, cho dù đúng là đám nhỏ chưa hiểu chuyện đắc tội với muội thì muội cũng không chấp nhặt chúng. Nhưng chuyện của muội và Dạ Hoa, về tình thì huynh đứng về phía muội, nhưng về lý mà nói thì huynh thấy Dạ Hoa không sai gì cả. A Ly vẫn chỉ là một đứa trẻ, muội cho nó uống nhiều rượu như vậy, say bảy, tám canh giờ vẫn chưa tỉnh lại, mà muội cũng không cho người báo Dạ Hoa một tiếng. Long tộc bọn họ đánh trận thì rất giỏi, nhưng y thuật thì rất tệ, bỗng nhiên thấy con mình say bất tỉnh nhân sự như thế, làm sao biết được là nó không sao. Muội làm mẹ kế mà cũng chẳng biết đường làm, trong lòng hắn nếu không có chút hoài nghi, thì hắn quả là nhân tài”. Huynh ấy ngừng lại một lát, rồi với tay qua bàn, xoa xoa đầu ta, nói: “Theo tính cách của muội, bình thường gặp phải chuyện này thì cũng chỉ cười xòa cho qua, lần này lại mất hết cả phong độ, lại còn gợi cho thứ phi của hắn, cùng châm chọc hắn. Haizz, thành thực mà nói, huynh rất tán thưởng hành động lần này của muội, nhưng bỏ qua điểm này, liệu hành vi bất thường của muội có phải là do ghen tuông không?”.

Ta ngẩn người, một tia sáng lóe lên trong đầu. Hai ngày từ Thanh Khâu tới Cửu Trùng Thiên, trái tim ta thường vô cớ nhói đau, cũng không khoan dung như mọi ngày, nhìn thấy Tố Cẩm mẫu mực kia là toàn thân khó chịu, không chịu được nửa câu mắng mỏ của cha cục bột nhỏ, hôm nay lại ngẩn ngơ thẫn thờ hồi lâu, hóa ra, là do ta ghen sao? Ta vẫn đang ghen sao? Sao ta lại ghen lâu đến vậy? Ta ghen lâu đến vậy mà chính mình cũng không cảm nhận được sao?

Chén trà nguội trong tay “choang” một tiếng rơi xuống đất, tứ ca giật nảy, tay trái ôm tay phải, tim nhảy thót lên, gật đầu nói: “Muội ghen thật rồi”.

Ta thừ người một lúc lâu, nhìn tứ ca lắp bắp: “Không, không thể nào? Muội lớn hơn hắn chín vạn tuổi, nếu muội tốt số thì giờ không chỉ có cháu mà e rằng chắt của muội cũng lớn bằng hắn. Muội luôn cảm thấy không phải với hắn, còn tâm tâm niệm niệm sẽ lấy cho hắn mấy thứ phi xinh đẹp mỹ miều. Lại nữa, hôm trước khi hắn tỏ tình với muội, muội cũng không hề thấy rung động. Muội đâu phải chưa trải qua chuyện yêu đương, nếu quả thực muội có cảm giác khác lạ với hắn, khi hắn tỏ tình, chí ít muội cũng phải thấy tim đập thình thịch chứ?”.

Hai mắt tứ ca sáng rỡ: “Hắn đã tỏ tình với muội rồi à? Ha ha, có thể nhắm trúng muội muội huynh nuôi nấng, tên nhóc này đúng là có con mắt tinh đời, có con mắt tinh đời”. Cười mãi rồi huynh ấy lại nói rất thoải mái: “Còn về chuyện tuổi tác, tuổi tác không thành vấn đề, cha chúng ta cũng lớn hơn mẹ mười lăm vạn tuổi. Chỉ cần tướng mạo tương xứng là được rồi, ta thấy tướng mạo bọn muội rất tương xứng. Còn chuyện muội muốn cưới thứ phi cho hắn, haizz, huynh nhớ trước đây Chiết Nhan cũng muốn cưới phu nhân cho huynh, nhưng muội xem, đã bao năm rồi có cưới được đâu, hi hi, lão ấy cảm thấy khắp bốn bể tám cõi này chẳng có nữ thần nào xứng với huynh”. Sau đó, huynh ấy lại vỗ lên vai ta, làm bộ đi tới, nói: “Còn chuyện tim đập thình thịch chỉ là cảm nghĩ của con gái, nhưng cũng chỉ cần người con gái có một trái tim tinh tế và nhạy cảm thôi. Tuy muội là muội muội của ta, nhưng ta cũng phải nói một câu công bằng, rằng muội bẩm sinh chậm hiểu, làm thần tiên thì không tồi, nhưng về chuyện yêu đương thì thật dở. Cái tim đập thình thịch ấy, đối với muội thì có hơi nhiệt tình quá. Chậm hiểu như muội thì hợp với kiểu mưa dầm thấm lâu hơn”.

Gân xanh trên trán ta giật giật hai lần.

Huynh ấy xoay xoay chén trà, cười nói: “Nghe Mê Cốc nói Dạ Hoa đến Thanh Khâu ở hơn bốn tháng, haizz, cơn mưa dầm này tuy có hơi ngắn một chút, nhưng mà tạm thời huynh hỏi muội một câu, nếu sau này hắn không ở Thanh Khâu nữa, muội có thấy tiếc nuối không? Haizz, thôi bỏ đi, muội chậm hiểu như thế, tiếc nuối hay không tiếc nuối thì cũng phải một vạn hay bảy, tám nghìn năm mới thấm được. Như thế này nhé, nếu hắn đi rồi, muội có thấy điều gì không quen không?”.

Gân xanh trên trán ta lại giật giật hai lần nữa, giữa hai lần ấy, trái tim ta khẽ run rẩy.

Lúc Dạ Hoa còn ở Thanh Khâu, mấy ngày đầu, ta cũng không quen. Nhưng nghĩ tới sau này phải thành hôn với hắn, hai người sớm muộn gì cũng phải ở chung, nên cũng kệ đi. Ban ngày bị hắn lôi đi tản bộ, lúc hắn nấu cơm thì ta chêm củi, lúc hắn phê công văn thì ngồi bên cạnh cắn hạt dưa, đọc truyện, đêm thì cùng hắn đánh vài ván cờ, vì ta nghĩ rằng sau khi thành hôn với hắn, thiên thu vạn tải đều trôi qua như vậy, nên dần dần cũng quen đi. Nhưng cũng chỉ là hơn bốn tháng, giờ tứ ca nói như vậy, trước khi Dạ Hoa đến Thanh Khâu ở, ta đã sống ra sao?

Trái tim ta chùng xuống.

Tứ ca cười ha ha: “Đợi sau khi xử lý chuyện của Mặc Uyên xong, vẫn phải nhờ cha đến tìm Thiên Quân nhắc mau mau cho hai người bọn muội thành hôn. Hôm nay theo như tứ ca sáng suốt của muội thấy thì đến tám, chín phần muội đã ưng Dạ Hoa rồi. Ông trời cũng có mắt, đã khiến vận đào hoa của muội tới, tuy rằng nó đến có im hơi lặng tiếng một chút, nhưng may mà có huynh nhận ra. Muội cũng không cần phải băn khoăn mãi, Dạ Hoa cũng rất yêu thương muội, đã tỏ tình với muội, nếu hắn dám phản bội lại lời thề ước lúc tỏ tình…”.

Ta lập tức dỏng tai lên lắng nghe, nếu Dạ Hoa dám phản bội lại lời thề ước lúc tỏ tình thì sẽ làm sao, thì huynh ấy lại đặt chén trà “cạch” một tiếng lên bàn, nói: “Xem bộ dạng bây giờ của muội, huynh rất yên tâm, huynh về trước đây” rồi nhảy qua cửa sổ mất hút.

Ta ngẫm nghĩ lại một lượt những lời của tứ ca. Lần này, trái tim suốt vạn năm không thấp thỏm lo sợ của ta bỗng nhiên thấp thỏm khôn xiết. Tứ ca nói không sai, tuy ta luôn muốn cưới cho Dạ Hoa mấy thứ phi xinh đẹp mỹ miều, nhưng nhìn mãi đám thần tiên đời sau mà chẳng thấy ai xứng với Dạ Hoa.

Nếu ta quả thực động lòng trước Dạ Hoa… Bạch Thiển ta sống suốt mười bốn vạn năm, lại âm thầm động lòng trước một tên tiểu tử kém ta chín vạn tuổi, mà đáng ra hắn phải gọi là cố nội.

Ta đứng trong tòa lầu trống trải rất lâu, thở than chán chê, sụt sùi mê mỏi, cuối cùng cũng chẳng đưa ra được kết quả gì.

Hôm nay chịu mấy trận giày vò tinh thần, trong lòng vẫn lo sợ không yên, mặc nguyên y phục lên giường nằm, trằn trọc không nguôi. Hễ nhắm mắt là trước mặt lại hiện lên khuôn mặt trắng bệch mà sầm sì của Dạ Hoa.

Ta trằn trọc trên giường khoảng hơn nửa canh giờ, tuy không biết rằng mình có động lòng với Dạ Hoa hay không, nhưng những lời tứ ca đã khiến ta hiểu ra, bây giờ ta vẫn còn có hôn ước với thái tử Dạ Hoa của Cửu Trùng Thiên, vị trí của hắn trong trái tim ta là một vị trí lớn hơn bình thường.

Ta nghĩ tới nghĩ lui, cảm thấy việc hủy hôn với Dạ Hoa tạm thời nên gác lại, hết thảy phải lặng yên xem có những biến đổi gì. Dáng vẻ lạ lùng của hắn chiều nay thực khiến người ta đau đầu, tạm thời ta cũng không nên chấp hắn làm gì. Đêm nay trước tiên phải lấy lại phong độ của thượng thần, lúc đến chỗ hắn lấy cây đèn Kết Phách, phải hòa giải với hắn.

Đêm nay, đến lúc ta lần mò đến được nơi Dạ Hoa nghỉ lại, hắn đang ngồi uống rượu trên chiếc ghế đá đặt ở giữa sân. Trên chiếc bàn đá bên cạnh đặt một bình rượu Đông Linh Ngọc, dưới chân bàn ngổn ngang mấy vò rượu, được san hô bên cạnh phản chiếu, ánh lên những tia sáng màu xanh lục lấp lánh. Đêm qua lúc cục bột say túy lúy, Nại Nại từng than rằng, tửu lượng của tiểu điện hạ đúng là thay cho phụ quân của nó, tệ vô cùng.

Ta chưa bao giờ uống rượu với Dạ Hoa, cho nên không biết tửu lượng của hắn ra sao. Bây giờ dưới chân hắn ngổn ngang năm, sáu vò rượu, tay cầm chén vẫn rất vững, như thế tửu lượng của hắn quả không tồi chút nào.

Hắn nhìn thấy ta thì sững người lại, tay trái giơ lên day day góc trán, sau đó lập tức đứng dậy: “À, nàng đến lấy đèn Kết Phách đây mà”. Lúc hắn đứng dậy cơ thể hơi loạng choạng. Ta vội vàng đưa tay ra đỡ hắn, nhưng bị hắn gạt ra, chỉ lạnh lùng nói, “Ta không sao”.

Tây Hải Thủy Quân thiên vị, bố trí cho hắn ở một tẩm điện rất hoành tráng, chỗ hắn ngồi cách trung tâm của điện cũng phải hơn trăm bước chân.

Khuôn mặt hắn không chút biểu cảm, chỉ có sắc mặt là trắng bệch hơn cả hôm qua, những lọn tóc đen nhánh xõa xuống, tiều tụy đi trông thấy. Đợi hắn quay mình đi vào trong điện, ta mới lẽo đẽo theo sau, cách chừng ba, bốn bước chân.

Hắn đi trước, dáng vẻ bình thản vững chãi, dường như lúc nãy không hề loạng choạng, chỉ có điều chậm hơn ngày thường, thi thoảng còn giơ tay lên day day góc trán. Haizz, xem ra cũng có say. Đến say cũng lặng lẽ như thế, rất phù hợp với tính cách của hắn.

Trong điện không có ai hầu hạ, ta chọn một chiếc ghế rồi ngồi xuống, ngẩng đầu lên bắt gặp ánh mắt trầm lắng của hắn.

Hai mắt hắn rất sáng, đôi mắt đen thăm thẳm, khuôn mặt lúc không cười, ánh mắt nhìn người khác rất lạnh lùng, nhưng lại mang vẻ uy nghiêm của Cửu Trùng Thiên.

Tuy ta cũng là người nhanh hiểu ý tứ người khác, nhưng cũng không biết đọc ánh mắt người khác thế nào. Hôm nay vô cùng lạ lùng, ta và hắn nhìn nhau rất lâu, khiến ta cảm nhận được trong ánh mắt lạnh lùng của hắn ánh lên sự mệt mỏi và bi thương

Hắn chuyển ánh mắt sang bên cạnh, im lặng một lát, lật tay khẽ lầm rầm câu gì đó.

Ta sững sờ nhìn chằm chằm vào một cây đèn dầu bỗng hiện ra trong lòng bàn tay hắn, ngạc nhiên hỏi: “Đây là đèn Kết Phách ư? Nhìn nó cũng bình thường quá”.

Hắn đặt cây đèn vào lòng bàn tay ta, bình thản nói: “Đặt trên đầu giường Điệp Ung ba ngày, để cho dầu đèn cháy liền ba ngày không tắt, hồn phách của Mặc Uyên sẽ tụ lại. Trong ba ngày này, phải cẩn thận bảo vệ lửa đèn, tuyệt đối không được dùng tiên khí bảo vệ nó”.

Ngọn đèn đó đặt trong lòng bàn tay ta, một luồng khí trạch quen thuộc ập đến, trong đó lẫn chút mùi vị hồng trần, không giống với tiên khí, mà giống như khí trạch của một người phàm trần, xưa nay ta chưa từng quen biết người phàm trần nào, luồng khí này lại quen thuộc đến thế, khiến ta không khỏi ngẩn ngơ. Nhưng vừa nghe câu nói đó của hắn, ta vẫn gật đầu: “Đương nhiên sẽ bảo vệ cẩn thận, tuyệt đối không dám lơ là”.

Hắn im lặng một lát, nói: “Là ta quá lo thôi, xưa nay nàng luôn tận tâm tận lực chăm sóc Mặc Uyên”.

Cây đèn Kết Phách này là thánh vật của Thiên tộc, theo lý mà nói nó phải được dâng lên Thiên Quân đương nhiệm, đặt ở một nơi trang trọng trên Cửu Trùng Thiên, quy định này không phải dễ dàng mà thay đổi. Thiên Quân vẫn còn tại vị, Dạ Hoa chẳng qua chỉ là thái tử, đèn Kết Phách lại ở trong tay hắn, khiến ta không khỏi có chút hoài nghi. Thiên Cung không giống Thanh Khâu, càng không giống cung Đại Tử Minh, quy củ vô cùng nghiêm khắc, thánh vật của cả tộc xưa nay không dễ gì mà cho người ngoài mượn. Nếu ta lên Thiên Cung hỏi mượn Thiên Quân thánh vật này, đã chắc rằng sẽ xóa hết món nợ mà Cửu Trùng Thiên nợ Thanh Khâu. Lần này Dạ Hoa lại có thể dễ dàng cho ta mượn cây đèn, khiến ta hơi xúc động, cầm cây đèn mà nghẹn ngào nói: “Ngươi giúp ta nhiều như thế, ta cũng thể để ngươi chịu thiệt thòi, ngươi muốn điều gì, cứ nói với ta, nếu làm được ta sẽ cố hết sức”.

Hắn ngồi tựa vào chiếc ghế đối diện, dáng vẻ mệt mỏi, nhíu mày nói: “Ta không cần gì cả”.

Nhìn thấy dáng vẻ của hắn, tim ta nhói lên một cái. Trước đây không được tứ ca giảng giải, khi tim nhói lên ta chỉ cảm thấy thật vô duyên vô cớ, nhưng bây giờ không còn giống trước kia, ta được tứ ca điểm hóa, đã hiểu biết hơn, trong lòng đã thấu tỏ tới bảy, tám phần. Điều này khiến ta vô cùng đau khổ, may mà trong lòng vẫn còn chút giằng xé. Ta ngượng ngập nói: “Không cần gì thật sao? Không cần gì thì ta về trước đây”.

Hắn ngẩng phắt đầu, nhìn ta rất lâu, điệu bộ vẫn bình thản như cũ, chậm rãi nói: “Ta muốn gì ư? Điều ta muốn trước sau chỉ có mình nàng mà thôi”.

Đêm nay Dạ Hoa quả rất khác thường, nghe những lời lạ lẫm mà khi nói ra mặt hắn không đổi sắc ấy, ta lại không cảm thấy lạ lẫm chút nào, ngược lại trái tim ta nảy lên một nhịp, tuy không phải là thình thình, nhưng cũng đập mạnh. Sau cơn rung động ấy, đến khi nhận ra mình đã nói câu gì, ta chỉ muốn cắt lưỡi của mình.

Híc híc, ta nói là: “Ngươi muốn một đêm phong lưu với bản thượng thần ư?”.

May mà lúc ta ý thức được thì Dạ Hoa vẫn còn đang choáng váng sững sờ, mặt ta đỏ bừng bừng, cất vội cây đèn rồi cuống quýt cáo từ. Chân còn chưa bước qua bậc cửa, đã bị hắn kéo lại từ phía sau.

Ta ngẩng đầu lên nhìn xà nhà, Bạch Thiển, ngươi tự làm tự chịu.

Mùi rượu trên người Dạ Hoa xộc tới làm ta váng vất đầu óc, hắn ôm ta rất chặt, bị hắn ôm như vậy, cảm giác bồn chồn bất an bỗng chốc biến mất, trong đầu chỉ còn lại khói sương rực rỡ như hoa đào, tựa như nguyên thần thoát ra ngoài. Không chừng đúng là nguyên thần thoát ra ngoài thật, vì ngay sau đó ta đã không kìm được nói mấy câu hớ.

Khụ khụ, ta nói là: “Đứng ở cửa không hay lắm, hay là lên giường đi”. Nói xong câu này, ta lại còn bắt quyết, biến lại thành nữ.

Cho đến khi Dạ Hoa bế lên giường, ta vẫn không hiểu tại sao mình lại nói thế, làm như thế. Đêm nay hắn uống quá chén, nhưng vẫn có thể bế ta, đi rất vững, ta phục hắn vô cùng.

Ta nằm trên giường mà lòng hoang mang, bỗng chợt hiểu ra.

Lòng ta luôn vương vấn điều gì với Dạ Hoa, cho dù đã được tứ ca nhắc nhở, đại để ta cũng hiểu được một ít, nhưng vì hiểu ra quá đột ngột, cho nên vẫn muôn phần vương vấn. Trong những câu chuyện mà ta đã đọc ở trần gian, kể chuyện thư sinh yêu tiểu thư, tài tử bén duyên giai nhân, thì đám tiểu thư, giai nhân đó đều phải làm chuyện này mới hiểu rõ được tấm chân tình của đám thư sinh, tài tử. Có lẽ sau khi làm chuyện này, ta cũng có thể hiểu rõ, có thể vừa nhìn là đã thấu hiểu tâm tư của Dạ Hoa?

Lúc hắn cúi mình xuống, mái tóc đen như mun xổ tung ra, khiến mặt ta hơi ngứa. Cho dù ta đã đốn ngộ, đương nhiên không còn gây cản trở nữa, với tay cởi quần áo của hắn, đôi mắt hắn nhìn ta đăm đắm, ánh mắt lóe lên, nhưng rồi lại vụt tối. Ta bị hắn nhìn như thế, tay run bần bật, trong lòng rối bời. Hắn kéo bàn tay đang cởi thắt lưng của ta ra, mỉm cười khe khẽ. Trong đầu ta bỗng chập chờn một hình bóng, giống như mây bay ngang trời, lại giống như có một chiếc giường tre, trên trán hắn lấm tấm mồ hôi, thì thầm vào tai ta: “Sẽ hơi đau, nhưng đừng sợ”. Có điều ta sống tới ngần này tuổi, thứ giường gì cũng từng nằm qua, chứ chưa hề nằm giường tre bao giờ. Ta không nhìn khuôn mặt người con gái nằm bên dưới, giống như có một màn sương che phủ, chỉ nhìn thấy một hành lang hư hư ảo ảo, nhưng lại vang lên tiếng rên rất khẽ, ta đứng bên cạnh lắng nghe, thì quả thực giống hệt tiếng của ta. Khuôn mặt già nua của ta đỏ bừng, đây đây đây, lẽ nào ngày nhớ đêm mong sao? Tình cảm của ta dành cho Dạ Hoa lẽ nào đã, đã đến mức này sao?

Ta buồn bã trấn tĩnh lại, định sờ lên tim, sụt sùi mấy tiếng, cái chạm này rất nhẹ nhàng, ta chớp mắt nhìn, mẹ ơi, xiêm y chỉnh tề của ta đi đâu cả rồi?

Hắn đang phủ phục trên người ta, trong mắt có một ngọn lửa như đang thiêu đang đốt, nét mặt lại lạnh lùng vô cùng: “Xiêm y của nàng khó cởi quá, ta phải dùng phép thuật”.

Ta cười gượng đáp: “Chẳng nhẽ ngươi đang không nhịn được sao?”.

Ánh sáng của viên dạ minh châu trong điện tỏa ra dịu mắt, xuyên qua tấm rèm, chiếu lên làn da trắng của hắn, làn da này giống như nước men của tách trà ta thường dùng trong động Hồ Ly, tuyệt đối không hề ẻo lả, những bắp cơ nổi lên cuồn cuộn, từ ngực đến eo còn hằn lên một vết sẹo rất sâu, nhìn vô cùng nam tính. Haizz, Dạ Hoa có một cơ thể hấp dẫn quá.

Hắn trầm giọng thì thầm bên tai ta, cười khẽ nói: “Nàng nói đúng lắm, ta không nhịn được”.

Nửa đêm tỉnh lại, đầu óc mơ màng. Ánh sáng của viên dạ minh châu đã bị Dạ Hoa dùng phép thuật chắn lại. Ta bị hắn ôm chặt trong lòng, nép chặt vào lồng ngực hắn, mặt áp vào vết sẹo sâu trên ngực hắn.

Nhớ lại đêm qua, chỉ còn nhớ được tấm rèm cứ nhấp nhô trên đỉnh đầu, khi ta bị hắn giày vò đến mức mơ màng ngủ thiếp đi, dường như hắn còn nói câu: “Nếu đời này ta có thể có nàng trọn vẹn một lần, cho dù chỉ đêm nay, cho dù là nàng vì đèn Kết Phách, vì Mặc Uyên, ta cũng không nuối tiếc”. Câu đó ta nghe không rõ, gần đây trong đầu thường xuất hiện những thứ mơ hồ, cũng không rõ là có phải ta bị ảo giác hay không.

Mặc dù ta và hắn đã làm chuyện này, nhưng đáng tiếc là lại chẳng giống những tiểu thư, giai nhân trong truyện, hào quang chiếu rạng nhà tranh. Đêm nay lần đầu tiên ta cảm thấy, những truyện ở trần gian viết đều là giả dối cả.

Dạ Hoa ngủ rất say, ta bỗng nhiên tỉnh táo, không còn buồn ngủ như trước nữa, chạm tay lên vết sẹo trên ngực hắn, ta bỗng nhớ tới một tin đồn. Tin đồn rằng ba trăm năm trước, tộc Giao Nhân(36) ở Nam Hải khởi binh làm loạn, muốn tự xưng bá một phương. Nam Hải Thủy Quân đánh không lại, gửi thư lên Cửu Trùng Thiên cầu cứu, Thiên Quân bèn phái Dạ Hoa dẫn binh đi thu phục, không ngờ Giao Nhân quá mạnh, Dạ Hoa suýt nữa bỏ mạng ở Nam Hải. Ta xưa nay không rời Thanh Khâu, không hiểu lắm về chuyện này, cho đến nay vẫn còn nhớ rõ, khi ta hôn mê dài ngày tỉnh dậy, tứ ca đã nhắc đi nhắc lại với ta nhiều lần về tin đồn này, vừa nói vừa chống tay thở than nói: “Muội nói xem đám người Giao Nhân ở Nam Hải đang yên đang lành lại làm phản làm gì, dạo này đám thần tiên đời sau càng lúc càng tệ hại, khó khăn lắm tộc Giao Nhân mới được coi trọng một chút, lần này lại bị tiêu diệt. Nhưng chàng thái tử của Cửu Trùng Thiên cũng bị ép đến mức suýt chút nữa thì tan thành tro bụi, còn bọn họ thì dù bị diệt tộc cũng không oan uổng”. Tứ ca Bạch Chân nhà ta cũng thật lắm chuyện, nhưng cũng chính nhờ huynh ấy mà ta được nghe về uy danh hiển hách của Dạ Hoa đến mấy lần. Nghe nói chiến sự gần hai, ba vạn năm nay của bốn bể tám cõi, chỉ cần là trận đánh do Dạ Hoa cầm quân, thì sẽ thắng như chẻ tre, nhưng chẳng ngờ trận ác chiến với tộc Giao Nhân đó, hắn lại thất thế như vậy, khiến tứ ca ta kinh ngạc vô cùng.

Ta đang lặng yên hồi tưởng chuyện cũ, Dạ Hoa không biết đã tỉnh từ lúc nào, khẽ giọng hỏi ta: “Không mệt à? Sao còn chưa ngủ?”.

Ta chẳng bao giờ giấu được nghi vấn mãi trong lòng, bèn vuốt nhẹ lên vết thương trên lồng ngực hắn, ngừng lại giây lát, cuối cùng vẫn cất tiếng hỏi.

Cánh tay đang ôm lấy ta của hắn cứng đờ, giọng nói xa xăm vẳng lại: “Đừng nhắc đến trận đó, họ bị diệt tộc, ta cũng không thể đạt được điều ta muốn, coi như là lưỡng bại câu thương(37) đi”.

Ta mỉm cười nói: “Ngươi suýt nữa bỏ mạng ở Nam Hải, có thể giữ được cái mạng nhỏ thì cũng may rồi, còn muốn gì nữa đây?”.

Hắn điềm nhiên đáp: “Nếu không phải ta thả nước, dựa vào khả năng của chúng, mà cũng muốn làm ta bị thương ư?”.

Trong đầu ta bỗng “ầm” một tiếng: “Thả, thả nước? Ngươi cố ý tìm cái chết ư?”.

Hắn nắm chặt cánh tay ta: “Chẳng qua chỉ lừa Thiên Quân mà thôi”.

Ta à lên: “A, hóa ra là giả vờ chết”, rồi kinh ngạc nói, “Không làm thái tử Thiên tộc, ngươi lại đi giả chết làm gì?”.

Hắn im lặng rất lâu mà không đáp, đúng lúc ta đã hết nghi ngờ, thì trên đầu lại vẳng xuống một âm thanh buồn bã: “Cả đời này ta chưa hâm mộ người nào, nhưng lại rất hâm mộ nhị thúc của ta – Tang Tịch”.

Tửu lượng của hắn không cao, đêm nay lại uống bốn, năm vò, lúc trước còn tỉnh táo một chút, hóa ra là hơi men vẫn chưa bốc lên hết. Rượu Đông Linh Ngọc có một nhược điểm là, ngủ tới nửa đêm hơi men mới bốc hết. Bình thường hắn rất ít nói, nói đến em trai thứ hai của Thiên Quân Tang Tịch thì lại tào lao mãi, có lẽ là do say rượu mà ra.

Mấy câu tào lao của hắn, đã vô tình để lộ ra chuyện động trời, chính là chuyện Tang Tịch và Thiếu Tân bỏ trốn, khiến ta nghe rất say sưa. Nhưng do chuếnh choáng say, tuy những lời nói ra có đầu có cuối, nhưng khó tránh có lúc câu sau chẳng liên quan tới câu trước. Ta nằm trong lòng hắn, vừa chăm chú nghe, vừa suy ngẫm, rốt cuộc cũng hiểu tới tám phần.

Ta chỉ biết năm đó Tang Tịch sau khi gặp Thiếu Tân đã quỳ trước bệ rồng của Thiên Quân, làm loạn cả lên, khiến cả bốn bể tám cõi đều hay, làm mất thể hiện Thanh Khâu nhà ta, chọc giận cha mẹ và mấy ca ca của ta. Nhưng ta lại không ngờ rằng trong chuyện này còn có nhiều khúc mắc đến vậy.

Nghe nói Tang Tịch yêu Thiếu Tân hết sức sâu đậm, còn dẫn nàng ấy lên Cửu Trùng Thiên, sau đó cực kỳ sủng ái. Tang Tịch luôn được Thiên Quân yêu quý, cho rằng chỉ cần lý do là tình sâu nghĩa nặng với Thiếu Tân, là có thể khiến Thiên Quân đổi ý, tác thành cho hắn và Thiếu Tân. Nhưng mối tình của hắn và Thiếu Tân lại gây nên đại họa, Thiên Quân chẳng những không tác thành cho đôi uyên ương, ngược lại còn cảm thấy con trai thứ hai của mình động lòng trước tiểu mãng xà là chuyện chẳng hay ho gì, nếu vì thế khiến cho nữ thần Thanh Khâu là ta nếu gả đi sẽ phải chịu ấm ức, mối giao tình giữa Long tộc và Cửu Vỹ Bạch Hồ Ly tộc trở nên căng thẳng. Đáng tiếc là Thiên Quân khi ấy lại không biết rằng con trai thứ hai của ông quá to gan, đã gửi một lá thư từ hôn lại động Hồ Ly, còn muốn vì tình hữu nghị giữa hai tộc, ta sẽ lấp liếm chuyện xấu hổ mà con trai thứ hai của ông gây ra. Cho nên, Thiếu Tân nhờ được Tang Tịch sủng ái mà mới lên Cửu Trùng Thiên mấy ngày, ngay sau buổi trưa ban ngày ban mặt, đã bị Thiên Quân kiếm một cái cớ rồi tống vào tháp Tỏa Yêu.

Tang Tịch nghe được tin này đã bị kích động tột độ, chạy đến trước điện của Thiên Quân quỳ suốt hai ngày. Trong hai ngày đã quỳ đến mức đầu gối tím bầm, cũng chỉ được một câu nói của Thiên Quân, rằng tiểu mãng xà chẳng qua cũng chỉ là một tiểu yêu tinh hạ đẳng, dám dụ dỗ nhị hoàng tử của Thiên tộc, dụ dỗ nhị hoàng tử thì không nói, còn dám cả gan làm mưa làm gió trên chốn thanh tịnh là Cửu Trùng Thiên, chiểu theo quy củ Thiên Cung, phải hủy hết tu vi của nàng ấy, đẩy xuống trần gian, vĩnh viễn không được thăng tiên. Rốt cuộc Tang Tịch cũng chỉ là một hoàng tử, bị uy nghi của Thiên Quân dội xuống, hắn cố hết sức cũng chẳng thể cứu được Thiếu Tân, trong lúc cùng quẫn nhất chỉ có thể đem tính mạng ra uy hiếp, mặc cả với cha mình, rằng nếu Thiên Quân nhất định trừng phạt Thiếu Tân như vậy, khiến hắn và Thiếu Tân mãi mãi chia lìa, thì hắn sẽ tự sát cùng với Thiếu Tân, dù hóa thành tro cũng phải có nhau.

Những lời ấy của Tang Tịch vừa tuyệt vọng vừa bi thương, trên Cửu Trùng Thiên, những người nghe được đều rơi lệ, đau lòng. Nhưng Thiên Quân đúng là Thiên Quân, là người đứng đầu Thiên tộc ắt có thủ đoạn, chỉ một câu mà đã khiến Tang Tịch sụp đổ. Rằng, con muốn chết ta cũng không cản, nhưng sự sống chết của tiểu mãng xà ta vẫn giữ trong tay, nếu con tự hủy đi nguyên thần của mình, sau khi con chết, ta sẽ có cách giày vò tiểu mãng xà.

Câu nói ấy tuy không được phong độ nhưng lại rất hữu hiệu. Tang Tịch không biết làm sao, cũng không thể tuẫn tình theo Thiếu Tân, đành ở yên trong cung. Thiên Quân thấy Tang Tịch rốt cuộc đã chịu yên ổn thì cực kỳ hài lòng, cũng không quá hao tổn tinh thần vì đôi uyên ương đó nữa. Nhưng vừa sơ ý một cái, thì Tang Tịch giả vờ ở yên trong cung đó đã lợi dụng sơ hở, xông vào tháp Tỏa Yêu, cứu Thiếu Tân ra, nhân lúc thần tiên ở bốn bể tám cõi vào chầu, đã xông vào triều đường của Thiên Quân, quỳ trước bệ rồng, khiến tất cả mọi người trong thiên hạ đều biết.

Rồi Chiết Nhan và cha mẹ ta lên Cửu Trùng Thiên bàn bạc. Nếu chuyện này không loan truyền rộng rãi, Thiên Quân sẽ âm thầm xử lý Thiếu Tân, chẳng có ai lời ra tiếng vào được. Nhưng chuyện đã ầm ĩ đến mức này, ngoài được sủng ái mà có chút kiêu ngạo trên Thiên Cung ra, Thiếu Tân cũng không mắc sai phạm gì lớn, Thiên Quân cũng chẳng còn cách nào, đành thả Thiếu Tân, đày Tang Tịch, lại tác thành cho mối tình đau khổ của họ. Dạ Hoa nói: “Tang Tịch cầu xin lòng nhân ái thì được nhân ái, quá trình tuy rằng có chông gai một chút, nhưng kết quả vẫn viên mãn. Hồi đó, tuy Thiên Quân yêu mến thúc ấy, tuy chưa nói rằng sẽ lập thúc ấy làm thái tử, chưa bị thân phận thái tử bó buộc, thúc ấy thoát thân vẫn thật thoải mái”.

Ta ôm lấy cánh tay hắn, ngáp một cái rồi hỏi bừa: “Còn ngươi?”.

Hắn dừng lại giây lát, nói: “Ta ư? Khi ta sinh ra, trên nóc nhà có bảy mươi hai con chim ngũ sắc lượn vòng, ráng trời sáng ở phương đông ba năm không dứt, nghe nói đây chính là, chính là sự tôn vinh mà chỉ có Mặc Uyên khi sinh ra mới có. Khi ta sinh ra đã được định sẵn là thái tử, Thiên Quân nói ta là thái tử do trời định mà tự cổ chí kim chưa từng có, đợi đến năm vạn tuổi sẽ làm lễ tấn phong. Từ nhỏ ta đã biết, chính phi tương lai của ta chính là Bạch Thiển của Thanh Khâu”.

Không ngờ hắn đã chào đời oanh liệt như vậy, ta tấm tắc khen ngợi từ tận đáy lòng: “Thật quá hoành tráng”.

Hắn chỉ lặng im, một lúc lâu sau, mới ôm ta chặt thêm, chậm rãi nói: “Nếu người con gái ta yêu không phải là Bạch Thiển, thì chỉ có thể lừa hết thảy thần tiên trên trời rằng ta đã tan thành tro bụi, tìm một nơi bên ngoài tam giới ngũ hành, mới có thể giữ được kết cục tốt đẹp cho mối tình này”.

Những lời tào lao đó đã khiến ta mơ mơ màng màng, ta khen cho số tốt của hắn: “May mà người ngươi yêu chính là Bạch Thiển ta”. Rồi kéo chăn lên đắp, rúc vào lòng hắn và thiếp đi.

Trong lúc chập chờn đi vào giấc mộng, bỗng nghe hắn nói: “Nếu có ai đó cướp đi đôi mắt của nàng, khiến nàng bị mù, Thiển Thiển, nàng có tha thứ cho người đó không?

Câu này của hắn quá vô lý, ta ngáp một cái: “Khắp gầm trời cuối đất này, e rằng chẳng có ai dám lấy mắt của ta”.

Hắn lặng yên rất lâu, rồi trong lúc ta mơ màng mới nói: “Nếu người đó là ta thì sao?”.

Ta sờ lên đôi mắt mình, không biết hắn bị làm sao, chỉ ôm lấy cánh tay, lại ngáp một cái nữa: “Thế thì giao tình của chúng ta chấm dứt từ đây”.

Lồng ngực áp sát ta thoáng run rẩy, lâu sau hắn ôm ta càng chặt hơn, nói: “Ngủ ngoan đi”.

Đêm nay ta nằm mơ một giấc mơ.

Trong mơ, ta biết rất rõ rằng, đó chỉ là mơ.

Trong giấc mơ, ta đang đứng trên đỉnh núi hoa đào rực rỡ, hoa đang rộ sắc, tươi thắm trùng trùng chẳng kém rừng đào mười dặm của Chiết Nhan. Ở giữa sắc đào rực rỡ ấy là một mái nhà tranh đơn sơ. Bốn bề thỉnh thoảng vẳng lên những tiếng chim kêu thưa thớt. Ta bước lên mấy bước, đẩy cửa bước vào nhà tranh, nhìn thấy bên cạnh một chiếc gương đồng xấu xí, một nữ mặc xiêm y trắng muốt đang đứng chải đầu cho một nam tử áo đen tuyền đang ngồi. Hai người họ quay lưng về phía ta. Trong gương phản chiếu bóng hai người, lại dường như bị mây mù che phủ, nhìn không rõ.

Nam tử đang ngồi nói: “Chỗ ta mới tìm được, chỉ có hai chúng ta, không có non xanh nước biếc, không biết nàng có ở được không?”.

Nữ tử đang đứng nói: “Có thể trồng hoa đào được không? Có thể trồng hoa đào là được rồi. Gỗ thì dựng nhà, quả thì ăn. Haizz, nhưng ngọn núi này chẳng phải rất tốt đó sao, mấy hôm trước chàng còn sửa lại nhà, tại sao chúng ta phải chuyển sang chỗ khác?”.

Toàn thân nam tử đang ngồi có một làn tiên khí chờn vờn, là thần tiên. Nữ tử đang đứng thì hết sức bình thường, là người phàm. Giọng nói của họ vô cùng quen thuộc, nhưng vẫn là trong mộng, khó tránh bị sai lệch.

Nam tử đó lặng im giây lát, nói: “Đất ở đó không giống đất ở ngọn núi này, có lẽ không thích hợp trồng đào lắm. Nhưng nếu nàng muốn trồng thì chúng ta cứ thử xem”.

Nữ tử sau lưng cũng lặng im giây lát, bỗng cúi người xuống ôm vai nam tử kia. Nam tử kia quay đầu lại, nhìn nữ tử đó rất lâu, hai người lại càng âu yếm nhau hơn. Ta không nhận ra nổi dáng hình của họ.

Họ hôn nhau say đắm, vì muốn nhận ra dáng hình họ, lại biết chắc là mình nằm mơ, nên ta càng không né tránh, chỉ mở to hai mắt, nhìn thẳng vào đôi uyên ương đang hôn nhau trên giường giữa thanh thiên bạch nhật ấy.

Không nhận ra dáng hình của họ khiến lòng ta rất khó chịu, hồi còn trẻ ta cũng đã xem không ít cung xuân đồ, trước màn cung xuân đồ bằng xương bằng thịt này, đang định im lặng, âm thầm xem tiếp, thì quang cảnh xung quanh đã thay đổi trong nháy mắt. Ta thầm rên trong lòng, quả nhiên là nằm mơ.

Khung cảnh sau khi thay đổi chính là lối vào của rừng đào, nam tử áo đen khẩn thiết nói với nữ tử áo trắng: “Không được ra khỏi ngọn núi này nửa bước, bây giờ nàng đang mang thai đứa con của ta, rất dễ bị người nhà ta phát hiện, nếu như bị họ phát hiện, sự tình sẽ không đơn giản. Làm xong việc này ta sẽ lập tức quay về, đúng rồi, ta đã nghĩ ra cách để có thể trồng đào ở nơi đó”. Dứt lời lại lấy một chiếc gương từ trong tay áo ra, đặt vào tay nữ tử đó: “Nếu như nàng cảm thấy cô đơn, thì hãy nhìn chiếc gương này gọi tên ta, nếu không bận ta sẽ nói chuyện với nàng. Nàng phải nhớ là tuyệt đối không ra khỏi rừng đào và ngọn núi này nửa bước”. Nữ tử gật đầu đồng ý, cho đến khi bóng của nam tử kia biến mất mới khẽ than một tiếng: “Đã bái trời đất là thành thân rồi, lại không dẫn ta về nhà gặp người thân, giống như vợ bé vậy, ôi, mang thai lại còn phải chạy trốn, thật quá mệt mỏi, không hiểu là chuyện gì nữa đây”. Rồi lắc lắc đầu bước vào nhà.

Ta cũng lắc đầu một cái.

Rõ ràng họ là một đôi tiên phàm yêu nhau, tự cổ đến nay, mối tình giữa thần tiên và người phàm thường không có kết cục tốt đẹp. Năm đó Thiên Ngô yêu một người phàm trần, vì sửa tuổi thọ của người phàm trần này, để người phàm ấy có thể sống với y muôn đời muôn kiếp, mà đã chịu biết bao đau khổ, suýt chút nữa mất hết tiên nguyên, được Mặc Uyên điểm hóa mới tỉnh ngộ. Năm ấy vì mối tình đó, y đã bị thương tổn tiên căn, nên khi chịu kiếp nạn của thần tiên viễn cổ, y không thể tránh được, đã uổng phí sinh mạng của mình.

Nữ tử đó bần thần đi vào trong nhà, khung cảnh trước mặt ta cũng thay đổi. Lại là rừng đào, hoa đào đã tàn quá nửa, cành cây trơ trụi, vầng trăng khuyết treo lơ lửng giữa bầu trời, khung cảnh thê lương biết bao. Nữ tử áo trắng giơ chiếc gương đồng thổn thức gọi gì đó, chỉ thấy những đường nét trên khuôn mặt mờ mờ, chiếc miệng mở ra rồi lại khép vào, âm thanh cũng hư hư ảo ảo. Nữ tử đó loạng loạng bước ra ngoài. Lòng ta chợt run rẩy, quên mất mình đang trong giấc mơ, cuống quýt nhắc nhở: “Chẳng phải tướng công nàng dặn nàng không được ra khỏi rừng đào sao?”. Nàng ta lại chẳng nghe lời khuyên của ta, cứ thế bước ra ngoài.

Bên ngoài rừng đào này chừng trăm bước là tiên chướng dày đặc, nữ tử đó lao đi rất cương quyết, lớp tiên chướng đó lại không hề cản nàng lại, nàng liên xông thẳng ra ngoài. Trên trời bỗng lóe lên hai tia sét dữ dội. Ta kinh sợ, tỉnh đậy.

Lúc ta tỉnh lại, trời đã sáng bạch. Trong phòng không một bóng người, chỉ có cây đèn Kết Phách được đặt ngay ngắn trên đầu giường.

May mà còn có chiếc màn là màu xanh trên giường nhắc cho ta nhớ ra bây giờ không phải mình đang nằm trên giường của Dạ Hoa, mà là giường của mình trong Thanh lâu. Haizz, Dạ Hoa làm việc quả nhiên chu đáo, cẩn thận.

Hai tiểu tiên nga áo xanh ngắt bước tới hầu hạ sửa soạn. Thực ra cũng không cần sửa soạn gì nhiều, người ta rất sạch sẽ, hẳn Dạ Hoa đã sửa soạn giùm ta rồi.

Sáng nay tỉnh lại, nhìn thấy ánh sáng rọi vào trong phòng, luồng ánh sáng này xanh xanh, trong lòng bỗng ngộ ra tất cả.

Có một câu chuyện có đoạn viết như thế này, rằng có một tiểu thư con quan về quê cưới chồng, giữa đường gặp giặc cướp, bị cướp về trên núi làm sơn trại phu nhân. Thực ra ta rất thích tên cướp này. Hắn vung đôi búa lên so với đám thư sinh trói gà không chặt, suốt ngày chỉ biết “Tử viết”, “Thi vân”(38) kia đã mạnh hơn gấp hàng trăm lần rồi. Nhưng vị tiểu thư con quan kia lại giữ trinh tiết, không coi tên cướp biết múa đôi búa kia ra gì, thà chết cũng không chịu khuất phục. Và chính tiểu thư con quan bảo vệ trinh tiết thà chết không chịu khuất phục ấy, trong một đoạn khác lại có tư tình với tên thư sinh trèo tường lẻn vào trướng phù dung. Có thể thấy đám tiểu thư giai nhân đó không phải tùy tiện có thể tư tình với bất cứ người nào, họ không hề làm chuyện này rồi mới nảy sinh tình cảm, mà là trước khi làm chuyện này, hẳn họ đã tương tư chàng thư sinh của mình rồi.

Đêm qua ta đã cùng Dạ Hoa làm chuyện này, coi như là ta “dụ dỗ” chàng trước. Ngoài một chút đau đớn ban đầu, sau đó ta cảm thấy tình yêu quả rất thú vị, khi chàng ôm ta vào lòng, ta cảm thấy vô cùng hạnh phúc.

Đến giờ nhìn lại, đúng như tứ ca nói, bản thượng thần ta, đã vượt qua trở ngại tuổi tác để yêu Dạ Hoa mất rồi.

Tình yêu, đúng là thứ bạn không muốn dính phải là có thể không dính phải được.

Haizz, may mà trước đây ta cảm thấy khắp bốn bể tám cõi chẳng có một nữ thần nào có thể xứng làm thứ phi của Dạ Hoa.

Ta đã cùng Dạ Hoa yêu đương đắm say như thế, đương nhiên không thể hủy hôn được. Ta định bụng sau bữa sáng, nhân lúc đến điện Phù Anh thắp đèn Kết Phách sẽ đến điện của Dạ Hoa để gặp chàng, nhân thể hỏi chàng, chàng có bằng lòng vì ta, làm một vị Thiên Quân không thể lập Thiên Hậu khi kế nhiệm được không.

Ta cảm thấy chàng đương nhiên sẽ bằng lòng.

Ta vui vẻ dùng bữa sáng, vui vẻ đến điện Phù Anh, vui vẻ đến tẩm điện của Dạ Hoa.

Có lẽ là không gặp may, hai tiểu tiên nga giữ cửa nói: “Trời vừa sáng quân thượng đã về Thiên Cung rồi”.

Dạ Hoa làm thái tử thật vất vả, ngày ngày đều phải phê duyệt biết bao văn thư. Chàng vội vã đến Tây Hải, lại vội vã quay về, có lẽ cũng là có chuyện gì gấp gáp chăng.

Ta thông cảm chàng là thái tử, nói cảm ơn hai tiểu tiên nga rồi buồn bã quay trở lại điện Phù Anh.

Trong điện Phù Anh, sau khi làm phép cho Điệp Ung say ngủ, ta cẩn thận thắp đèn Kết Phách.

Đèn Kết Phách thắp ở đầu giường Điệp Ung ba ngày, ta cũng trông ở đầu giường Điệp Ung ba ngày. Ngày ngày phu nhân của Tây Hải Thủy Quân đều cùng mấy nô tỳ đến trước cửa điện nghe ngóng tình hình, sợ rằng ta sẽ làm con bà ta chết, may mà bị mấy tên tâm phúc của Tây Hải Thủy Quân chặn lại ở cửa, đành phải quay về.

Đám tiên nga trong điện lại chẳng khác gì gặp kẻ địch, nghe nói bình thường đều tranh nhau hầu hạ Điệp Ung, bây giờ lại chẳng có ai dám lại gần đầu giường ba thước, đến đi lại cũng rón ra rón rén, chỉ sợ làm tắt lửa đèn.

Ngồi ở đầu giường nhìn Điệp Ung ngủ thật là chán, ngọn đèn Kết Phách tỏa ra một luồng khí khiến ta cực kỳ hoảng hốt, bèn sai đám tiên nga hầu hạ bê ít hoa quả tới, ngồi cắn hạt dưa tí tách, để trấn tĩnh tinh thần.

Ba ngày trôi qua, đầu giường Điệp Ung tích không ít vỏ hạt dưa, hai mắt ta đỏ quạch, vì nhìn chằm chằm vào đèn Kết Phách nên hễ nhắm mắt là hình ngọn lửa lại nhảy nhót trước mắt.

Điệp Ung ngủ liền ba ngày, ngủ rất say, khi tỉnh lại tinh thần sảng khoái. Y cũng tự cảm thấy suốt sáu trăm năm qua chưa bao giờ tinh thần sảng khoái như hôm nay, kích động vô cùng, đòi đi chơi khắp Tây Hải, ngắm những cảnh sắc mà suốt sáu trăm năm qua chưa được ngắm. May mà y vẫn còn chút lòng tốt, biết rằng ba ngày qua ta đã chịu khổ, nên không kéo ta đi cùng.

Hồn phách của Mặc Uyên đã tụ lại, tiếp theo sẽ phải đến Doanh Châu ở Đông Hải lấy cỏ Thần Chi, còn đâu không có gì phải chuẩn bị, cần phải nghỉ ngơi ít bữa. Ta đi một mạch về Thanh lâu, dặn dò đám tiểu tiên nga đóng chặt cửa ra vào, lại đặt thêm một lớp tiên chướng ở trong phòng, nhào lên giường bắt đầu ngủ.

Giấc ngủ này kéo dài năm, sáu ngày.

Đến khi tỉnh dậy, thu lại tiên chướng, đang định đi gặp Tây Hải Thủy Quân để cáo từ, lúc mở cửa phòng hai tiên nga quỳ trước cửa dọa cho ta một trận chết khiếp. Hai tiên nga này xem chừng đã quỳ rất lâu, thấy ta vừa bước ra khỏi cửa tuy mặt vẫn nghệt ra nhưng miệng đã nhanh nhảu thưa: “Tiên quân đã tỉnh, thượng thần Chiết Nhan đã chờ Tiên quân ở đại sảnh hai ngày rồi”.

Ta ngẩn người.

Gần đây ta đúng là miếng bánh thơm, ai cũng đến tìm ta. Tứ ca, Dạ Hoa, Tây Hải Thủy Quân, còn như phu nhân của Tây Hải Thủy Quân thì tạm thời không bàn tới, đến Chiết Nhan cũng liên tục một, hai lần đến tìm ta rồi. Không hiểu lần này lão tìm ta là vì sao.

Ta đi trước, hai tiên nga líu ríu theo sau.

Ta rẽ xuống cầu thang, Chiết Nhan đã ngẩng đầu nhìn về phía ta. Thấy ta lão liền cười, vẫy tay nói: “Qua đây ngồi đi”.

Ta bước tới ngồi xuống, nhân tiện cho mấy tiên nga đi cùng lui ra, cầm tách trà trên bàn lên, nhấp mấy ngụm cho trong giọng.

Lão nhìn ta từ đầu xuống chân một lượt, nói: “Xem dáng vẻ của ngươi thì hồn phách của Mặc Uyên chắc là ổn rồi. Mấy hôm trước ta có luyện được một viên tiên đan, mang tới cho ngươi, có lẽ ngươi cần dùng tới”.

Dứt lời liền lấy một viên tiên đan màu trắng tinh bỏ vào tay ta.

Ta cầm viên tiên đan ấy đưa lên mũi ngửi ngửi, thoang thoảng mùi thơm của cỏ Thần Chi.

Ta mắt chữ O mồm chữ A: “Viên tiên đan này chẳng phải dùng tu vi của lão để luyện sao? Lão, lão biết là ta muốn độ tu vi cho Mặc Uyên sao?”, rồi lại nhìn lão, “Lão đi Doanh Châu lấy cỏ Thần Chi mà không bị bốn con ác thú đả thương ư?”.

Lão ta lấy tay áo che miệng, húng hắng ho hai cái, nói: “A, ngươi muốn dùng tu vi của bản thân để độ cho Mặc Uyên sao? Cái này thì ta chưa nghĩ tới, năm đó ngươi đơn độc phong ấn Kình Thương, đã mất rất nhiều tiên lực, may mà ta đã sớm luyện thành viên tiên đan này, nếu ngươi tiếp tục độ tu vi cho Mặc Uyên, chút đỉnh tu vi còn lại sẽ chẳng xứng với danh hiệu thượng thần mất”. Rồi lão lại xoay xoay tách trà trong tay, nói: “Phụ Thần nuôi ta lớn khôn, ơn dưỡng dục không gì báo đáp nổi, người để lại hai đứa con, đứa nhỏ đã mất, đứa lớn vẫn còn, ta có thể giúp đỡ một chút mà thôi”.

Những lời này lão thốt ra rất nhẹ nhàng, mà tình cảm bên trong sâu đậm biết bao. Mắt ta bỗng ươn ướt, bèn nhận lấy viên tiên đan, cảm ơn lão.

Lão nhận lời cảm ơn này, nhưng lại chẳng nói gì, chỉ thở dài một cái.

Ta giơ viên tiên đan lên, ngồi im lặng.

Lão ngước lên liếc nhìn ta, muốn nói gì đó rồi lại ngần ngừ một lúc, sau đó mỉm cười, nói: “Ta phải đi rồi, ngươi tìm lúc nào tinh thần Điệp Ung sảng khoái thì đưa cho y uống. Không biết cơ thể của y có hấp thu nổi viên tiên đan này không, ngươi vẫn nên ở bên trông chừng y xem sao”.

Ta gật đầu đồng ý, mắt nhìn theo lão đi dần ra khỏi đại sảnh.

Gần đây Điệp Ung chẳng có ngày nào là tinh thần không sảng khoái cả, phu nhân của Tây Hải Thủy Quân rất vui vẻ, Tây Hải Thủy Quân cũng rất vui vẻ, cho nên toàn Tây Hải đều vui vẻ. Nhưng cơ thể Điệp Ung bẩm sinh không mạnh khỏe, uống viên tiên đan đại toàn đại bổ đúc kết tu vi hơn vạn năm của Chiết Nhan, hẳn là sẽ bổ đến mức phải nằm liệt giường hơn một tháng. Ta vốn có tấm lòng từ bi của Bồ Tát nên quyết định trước khi Điệp Ung nằm liệt giường hơn một tháng sẽ cho y nhảy nhót vài ngày. Trong mấy ngày y nhảy nhót khắp nơi ấy, bạn nhậu của tứ ca là Tô Mạch Diệp đến mời ta mấy bữa rượu.

Điệp Ung tiêu dao nửa tháng, sau nửa tháng, ta đích thân cho y nuốt viên tiên đan của Chiết Nhan. Cơ thể Điệp Ung tuy không khỏe, nhưng cũng không đến mức như ta và Chiết Nhan dự đoán, sau khi nuốt viên tiên đan đó, cũng chỉ nằm mê man trên giường có bảy ngày.

Từ khi y mê man trên giường, trong bảy ngày đó, mẫu thân y ngày ngày đều đứng ở đầu giường y lấy nước mắt rửa mặt. Tuy ta đã đảm bảo rằng triệu chứng của y chỉ là do bổ quá nên không chịu nổi, nhưng mẫu thân hắn vẫn nhìn ta căm phẫn như hôm nào.

Bà ta hằm hằm giận dữ với ta cũng chẳng sao, nhưng quá lo lắng cho con trai mình, sợ ngộ nhỡ Điệp Ung đang hôn mê kia nhất thời xảy ra chuyện gì mà không tìm được ta, nên đã xin Tây Hải Thủy Quân đến nhờ ta cùng bà ta ngồi trực ở đầu giường Điệp Ung bảy ngày bảy đêm. Vì giữ thể diện cho Tây Hải Thủy Quân nên ta đành phải nhận lời. Ngày ngày bà ta ngồi ở đầu giường thương xót con trai bà ta, còn ta bóc hạt hạnh đào cũng bị bà ta nhìn với vẻ đau thương vô hạn rất lâu, rất lâu, sau khi bóc được hai, ba ngày thì ta thôi không bóc nữa, ngày ngày trôi qua thật thê thảm.

Đến đêm thứ bảy, Điệp Ung đã tỉnh lại. Lúc này trong phòng chỉ còn mình ta, mẫu thân y lúc trước còn chờ y, nhưng vì chờ y bảy ngày mà chưa tỉnh lại, nên đã trút giận sang ta, nhất thời đau khổ tột độ cũng đã ngất đi, vừa nãy đã được Tây Hải Thủy Quân đưa đi rồi. Ta bước tới, định xem xem viên tiên đan được y hấp thu đến đâu rồi. Chân vừa dợm bước đến men giường, tay đã bị y tóm chặt lại. Vẻ mặt y vô cùng khó hiểu, nhìn ta nói: “Mấy ngày ta ngủ, ngươi đều đợi bên cạnh ta ư?”.

Y hỏi quá đột ngột, ta gật đầu đáp: “Ngươi cảm thấy chỗ nào không khỏe à?”.

Y không trả lời, chỉ cau mày hỏi: “Nghe nói ngươi là đoạn tụ?”.

Đông Hải Thủy Quân quả xuất sắc, quá xuất sắc là đằng khác, tin đồn còn bay đến tận Tây Hải.

Nhưng chuyện này xưa nay càng gỡ thì chỉ càng thêm rối, ta ứng biến, rút tay khỏi tay y, tươi cười nói: “Ta nghe nói điện hạ cũng là đoạn tụ?”.

Mày hắn lại càng chau tít lại, nói: “Đúng, tuy ta là đoạn tụ, nhưng người ta yêu không phải kiểu như ngươi”.

Ta đưa tay bắt mạch cho y, cũng đáp: “A, dáng vẻ của ta bẩm sinh nho nhã, yếu đuối, nếu không yêu kiểu như ta, vậy thì chắc là yêu kiểu như Dạ Hoa”.

Trong đám thần tiên mà ta quen thì Dạ Hoa có tướng mạo tuấn tú nhất, tuy nét mặt gần giống Mặc Uyên nhưng vẻ mặt lạnh lùng, rõ ràng nam tính hơn. Điệp Ung bẩm sinh thư sinh, lại thương xuân sầu thu, ta đoán y tự coi mình là kẻ nhu nhược, cho dù thích đàn ông, thì cũng thích kiểu nam tính, cho nên mới tiện miệng đoán một câu. Ta chỉ nói bừa mà mặt y đỏ lựng lên, vội vã quay sang một bên.

Ta thầm rên trong lòng, tay run run bắt mạch cho y, nói: “Ngươi, ngươi thích Dạ Hoa ư?”.

Y quay đầu lại, khó khăn thốt lời: “Chuyện này thực ra cũng không nên miễn cưỡng, tiên quân chẳng quản khó nhọc chăm sóc ta, ta rất cảm kích. Nếu không phải là đám thị nữ trong điện nói với ta, thì thực sự ta cũng không nhận ra tâm ý của ngươi. Trước khi ta không nhận ra tâm ý của ngươi, trước sự ân cầm chăm sóc của ngươi, còn vì, còn vi tin đồn ngươi với quân thượng, nên trong lòng có chút khó chịu với ngươi. Không ngờ tạo hóa trêu ngươi, bây giờ ta đã hiểu được tâm ý thực sự của ngươi rồi. Ta biết tâm ý của ngươi nhưng rốt cuộc vẫn không thể làm ngươi thỏa nguyện, khiến ta cảm thấy rất buồn, cũng cảm thấy có lỗi với ngươi”. Y ngừng lại giây lát, rồi sụt sùi buồn thương vô hạn, nói: “Chuyện như thế này, ta mới chỉ đọc được trong cuốn truyện mà Tô Mạch Diệp đưa cho ta, nào ngờ câu chuyện lại ứng lên chúng ta”. Cảm thán một hồi, y lại tiếp, “Mối tình của tiên quân và quân thượng là thực sao? Quân thượng, ngài không cự tuyệt đoạn tụ, phải không?”.

Ta sững sờ hồi lâu, mới tĩnh trí lại trước mối tình tay ba qua lời kể của Điệp Ung, nhếch môi, cắn răng, cười nói: “Hắn cự tuyệt, ta đã giở mọi thủ đoạn, nhưng hắn vẫn cự tuyệt, cho nên ta mới chuyển sang điện hạ, đem lòng tơ tưởng đến điện hạ”.

Khuôn mặt đỏ lựng của y dần dần trắng bệch.

Ta vẫn biết Dạ Hoa đào hoa, nhưng chẳng ngờ ngoài hấp dẫn phụ nữ, chàng còn có thể hấp dẫn cả đàn ông. Tứ ca nói không sai, năm nay là năm khiến người ta đau đầu nhất. Sau này không nên để Dạ Hoa đến Tây Hải là tốt nhất.

Mạch tượng của Điệp Ung rất ổn định, khí trạch hài hòa.

Nhưng vì ổn thỏa, nên ta cảm thấy vẫn nên dùng truy hồn thuật để thăm dò xem tiên khí của Chiết Nhan trong cơ thể y có được như ý muốn của ta không, để có thể bảo dưỡng hồn của Mặc Uyên thật tốt.

Lần trước Điệp Ung đã chịu thiệt thòi nhưng lại chẳng khôn ra, mà lại rơi vào tay ta. Vì đây là lần thứ hai dùng truy hồn thuật với y, nên ta không hề gặp chướng ngại khi đi vào nguyên thần của y. Lần này ta không cần nhờ vào Đại Thánh Phật Âm dẫn lỗi, mà tìm ra Mặc Uyên rất suôn sẻ.

Lần trước khi nhìn thấy người, chỉ thấy có một dải tiên khí yếu ớt, nhỏ bé bảo vệ người. Lần này bảo vệ người là một màn tiên khí mạnh mẽ, ta không thể đến gần người. Luồng tiên lực thế mạnh này, không có tu vi vạn năm tinh thâm ra thì không thể luyện thành. Xem ra ngày Mặc Uyên tỉnh lại đã sắp đến rồi.

Nhưng, nhưng khí trạch bảo dưỡng cho hồn Mặc Uyên này tuyệt đối không phải của Chiết Nhan. Khí trạch mạnh mẽ mà trầm tĩnh, ẩn chứa mà mênh mông này… lòng ta lạnh toát kinh sợ, cuối cùng đã hiểu ra những lời Chiết Nhan muốn nói rồi lại thôi khi đưa viên tiên đan, cuối cùng cũng hiểu ra tại sao lão ta đi Doanh Châu lấy cỏ Thần Chi mà trên người chẳng có lấy nửa vết sẹo. Chẳng qua vì lão ta chưa từng đến Doanh Châu, cũng chưa từng đánh nhau với ác thú canh cỏ Thần Chi. Tuy rằng xưa nay lão luôn không nghiêm túc chỉnh tề, nhưng chưa bao giờ nói dối, cũng chưa bao giờ lợi dụng người khác. Khi ấy lão muốn nói với ta rằng, thực ra viên tiên đan này là do Dạ Hoa luyện. Vậy tại sao chàng phải giấu ta? Chẳng nhẽ, chẳng nhẽ…

Ta trấn tĩnh lại rồi rời khỏi nguyên thần của Điệp Ung, loạng choạng bước đến bên bàn lấy một tách trà, nước còn chưa trôi xuống đã nôn ra hai ngụm máu. Ban nãy thần thức của ta đã bị kinh động.

Trái tim đập liên hồi, chân ta mềm nhũn khuỵu xuống, chiếc chén trên tay vỡ tan tành, Điệp Ung day day đầu bò dậy khỏi giường, nghệt ra hỏi ta: “Ngươi làm sao vậy?”.

Ta gượng cười, vịn lấy bàn đứng dậy: “Điện hạ đã khỏi bệnh rồi, không cần tiểu tiên điều dưỡng nữa, phiền điện hạ nói với Thủy Quân một tiếng, tiểu tiên có việc gấp, phải về rừng đào trước”.

Chú thích:

36. Giao Nhân: Giao là cá mập (ND).

37. Lưỡng bại câu thương: Thành ngữ Trung Quốc, chỉ cả hai đều bị thương, tổn hại.

38. “Tử viết” có nghĩa là “Khổng Tử nói rằng”, “Thi vân” có nghĩa là “Kinh Thi có câu rằng”, đều là những câu mào đầu trích dẫn quen thuộc trong sách vở, luận đàm của Nho gia (ND).

05Feb/17

TAM SINH TAM THẾ – THẬP LÝ ĐÀO HOA – Hồi 18

Nếu có một ngày, tình yêu của nàng dành cho ta chỉ còn lại nắm xương tàn

Chuyện của Chiết Nhan khiến ta chẳng còn lòng dạ nào ở trên Cửu Trùng Thiên nữa. Tuy ta có không ưa Dạ Hoa, nhưng được lên Thượng Thanh Cảnh trị thương thì vẫn nợ hắn ân tình, nếu như không từ mà biệt, thì không được hay lắm; còn nếu như chạy đến trước mặt hắn nói từ biệt thì ta thực mất mặt lắm thay. Thế nên để lại một phong thư, lời lẽ thành khẩn, bày tỏ sự biết ơn sâu sắc trước sự quan tâm chăm sóc của hắn đối với ta trong hai ngày gần đây, rồi cùng Chiết Nhan đi qua Nam Thiên Môn, vội vã xuống trần gian.

Cho dù lúc này Mặc Uyên chỉ là hồn phách ngủ say trên cơ thể của Tây Hải đại hoàng tử, thì ta vẫn muốn nhìn thấy người. Lòng mong muốn đến Tây Hải này giống như một con chim mẹ trong rừng, dậy thật sớm đi bắt sâu, khi bắt được một con sâu béo, liền hoan hỉ giang cánh bay về tổ, muốn mớm sâu cho con chim non đang nằm trong tổ.

Từ trên Cửu Trùng Thiên xuống đến Tây Hải, cưỡi mây cũng mất chừng hơn một canh giờ, cưỡi mây cùng Chiết Nhan cực kỳ buồn chán, lão luôn lảm nhảm không ngừng bên tai ta. May mà gần đây lão với tứ ca hòa thuận vui vẻ, nên lỗ tai ta mới khỏi bị tra tấn, khỏi phải nghe đi nghe lại những chuyện xấu hổ từ đời nảo đời nào về lão và tứ ca.

Lần này Chiết Nhan lại huyên thuyên về chuyện nhà của Tây Hải Thủy Quân, ta ngồi trên mây, giữ dáng vẻ nghiêm trang, chăm chú lắng nghe.

Trong các Thủy Quân của bốn phương đông tây nam bắc, thì Tây Hải Thủy Quân là người ta không có ấn tượng nhất. Ban đầu ta còn cho rằng mình ở Thanh Khâu đã quá lâu, không hay quan tâm đến đám thần tiên tiểu bối, nên ấn tượng về họ hết sức mờ nhạt trong tâm trí ta. Bây giờ nghe Chiết Nhan kể, mới hiểu rằng Tây Hải Thủy Quân hai đời nay sống hết sức kín đáo, khiến cho tộc Tây Hải gần như có cảm giác không tồn tại trong bốn bể tám cõi. Nhưng chính Tây Hải Thủy Quân – luôn giữ tác phong kín đáo nhiều năm qua gần đây lại làm một chuyện hết sức không kín đáo.

Chuyện này cũng do Tây Hải đại hoàng tử – Điệp Ung bị Mặc Uyên mượn thân xác điều dưỡng hồn phượng mà ra.

Nghe nói từ sáu trăm năm trước, Điệp Ung vốn không được khỏe mạnh, sức khỏe càng ngày càng tệ, đám thầy thuốc trong Thủy Tinh cung ở Tây Hải vì không tìm ra được nguồn bệnh, chữa chạy đã lâu mà không khỏi, nên đã mời Dược Quân ở trên trời xuống chẩn trị. Dược Quân mang theo hai tiểu đồng đến “vọng, văn, vấn, thiết”(34) một lượt, vuốt vuốt chòm râu rồi kê đơn thuốc. Nhưng hai đơn thuốc này chỉ có thể giúp Điệp Ung không ho ra máu nữa mà thôi. Trước lúc đi Dược Quân âm thầm kéo Tây Hải Thủy Quân đến một góc, nói bệnh của đại hoàng tử Điệp Ung không phải là bệnh lý trên người, mà đã không phải là bệnh trên người, thì Dược Quân cũng đành bó tay.

Đến Dược Quân cũng phải bó tay, Tây Hải Thủy Quân nhất thời đau xót đến đỏ hoe mắt, trầm tư nửa ngày, dứt khoát lập cáo thị cầu thầy thuốc, cáo thị ấy được dán khắp bốn bể tám cõi, viết hết sức rõ ràng, trong tam giới có ai có thể chữa khỏi bệnh của Tây Hải đại hoàng tử, đàn ông thì vời vào làm phi tử của Tây Hải đại hoàng tử, nữ thì được vời vào làm phi tử của Tây Hải nhị hoàng tử.

Haizz, đúng rồi, Tây Hải đại hoàng tử nghe đồn là một kẻ đoạn tụ.

Tây Hải Thủy Quân lo lắng đến mức đau đầu buốt óc, lời lẽ trên bản cáo thị cũng thành lạ lùng. Đương nhiên dưới gầm trời này cũng không ít kẻ đoạn tụ, ví dụ như cha của Ly Kính năm xưa là Kình Thương. Nhưng cũng có càng nhiều hơn không phải là đoạn tụ. Cáo thị lạ lùng kỳ quái của ông ta đã khiến những người không phải là đoạn tụ kia sợ chạy mất dép. Đợi mãi, đến lúc phát hiện chỗ sai trên cáo thị, thì bản cáo thị ấy đã như một bát nước lạnh bị rót vào dầu sôi, khiến cho bốn bể tám cõi đều nổ tung cả lên.

Từ đó, trước cổng cung của Tây Hải Thủy Quân, đám đoạn tụ nhiều như nước sông Hoàng Hà, cuồn cuộn sóng sau xô sóng trước, liên miên không dứt. Tiếc thay đám đoạn tụ này tuy “có tài đoạn tụ” nhưng lại chẳng có tài chữa bệnh.

Hồn phách của Mặc Uyên trốn rất kỹ, nếu không phải là người có tiên pháp đã đạt đến cảnh giới siêu việt, thì sẽ không thể nhìn ra trong thân thể của Điệp Ung có một hồn phách đang trú ngụ, ngày ngày chia tiên lực của y.

Vì thế, đại hoàng tử Điệp Ung bị giày vò đến mức chẳng còn ra dáng thần tiên. Phu nhân của Tây Hải Thủy Quân thấy y hình dung võ vàng thì đau lòng khôn xiết, ngày nào cũng khóc lóc trước mặt phu quân mình, khiến cho Tây Hải Thủy Quân cũng bội phần đau đớn.

Người có lòng hướng đạo, trời chẳng tuyệt đường sống bao giờ. Em ruột của Điệp Ung, nhị hoàng từ Tô Mạch Diệp và tứ ca của ta lại có mối quan hệ “bạn nhậu”. Nghe nói sau khi tứ ca tìm được Tất Phương về rừng đào mười dặm, bỗng một hôm cãi nhau với Chiết Nhan dăm câu, tức giận liền đến Thủy Tinh cung ở Tây Hải tìm Tô Mạch Diệp uống rượu.

Đúng lúc Thủy Tinh cung của Tây Hải gặp cơn sầu thảm, nhị hoàng tử Tô Mạch Diệp đó mới uống vài chén, ngà ngà say, mới lôi hết những chuyện buồn phiền trong gia đình ra kể cho tứ ca nghe. Tứ ca nghe xong những chuyện đau xót trong nhà Tô Mạch Diệp, lòng trắc ẩn dâng trào, liền tỏ ý sẽ về rừng đào mười dặm vời thượng thần Chiết Nhan đến giúp y. Xưa nay Chiết Nhan “định vị bản thân” rất rõ ràng, là một thượng thần thần bí “quy ẩn tam giới, chẳng hỏi hồng trần, hứng thú tao nhã, phẩm vị còn tao nhã hơn cả hứng thú”, mặc dù không muốn lội xuống nước, nhưng không thể không động lòng trước tấm thân tình của tứ ca, cuối cùng vẫn phải đến Tây Hải một chuyến. Chuyến này đã thu về được tin vui là Mặc Uyên sắp tỉnh, làm ta thỏa nguyện mong ước.

Chiết Nhan nheo mắt lại, nói: “Lúc ta và Chân Chân rời khỏi Tây Hải, nhận lời với đám tiểu thần tiên Tây Hải rằng, cứ cách một ngày lại phái tiên sứ đến Tây Hải, đích thân điều dưỡng cho Điệp Ung. Nếu muốn hồn phách của Mặc Uyên khôi phục suôn sẻ, thì cơ thể của Điệp Ung đương nhiên cũng cần được chăm sóc cẩn thận”.

Lão nói rất có lý, ta nhăn mày hỏi: “Từ lúc nào mà rừng đào của lão có tiên sứ thế?”.

Lão cười rất tự nhiên, đáp lời ta: “Trong tiệc đầy tháng ở chỗ Đông Hải Thủy Quân lần trước, nghe nói có một tiên nga mắt băng dải lụa trắng, đến đưa quà mừng là một bình rượu hoa đào cho Đông Hải Thủy Quân, tự xưng là phục vụ trong rừng đào của ta. Còn nghe nói tiên nga này cũng tự xưng là muội muội của thái tử Dạ Hoa trên Cửu Trùng Thiên, mấy lão thần tiên đã lên Cửu Trùng Thiên dò hỏi nửa tháng trời, nhưng không tìm ra được Dạ Hoa có muội muội nào, sau này lại chạy đến phủ của Đông Hải Thủy Quân chứng thực, hóa ra tiên nga đó không phải là tiên nga, mà là một tiên quân nam đóng giả nữ, vì có mối tình đoạn tụ với Dạ Hoa, nên đường đường là nam nhi mới phải giả là thục nữ, mạo danh là muội muội của hắn, để che mắt thiên hạ”.

Ta nhếch miệng: “Lão Đông Hải Thủy Quân này đúng là vui tính, ha ha, rất vui tính”.

Có thể tự tay điều dưỡng tiên thể của Tây Hải đại hoàng tử để báo đáp Mặc Uyên, ta vô cùng biết ơn Chiết Nhan. Nhưng lần này lão nhất định bắt ta phải giả nam, lại đẩy ta đến trước mặt một kẻ đoạn tụ, khiến ta hơi buồn bã. Ta cảm thấy hơi hối hận vì đã không nhờ tới tứ ca, bữa yến tiệc đầy tháng đó ở chỗ Đông Hải Thủy Quân, ta không nên lôi đại danh của Chiết Nhan ra.

Chiết Nhan liếc xéo ta một cái, ta ngẩng lên nhìn trời xanh, lắc mình hóa thành một thiếu niên, trên mặt vẫn băng một dải lụa trắng.

Đi khoảng một canh giờ, cuối cùng cũng đến Tây Hải.

Chiết Nhan ra vẻ một thượng thần uy nghiêm lẫm liệt dẫn ta tiến vào Tây Hải, đi loanh quanh dưới nước một lúc, thì nhìn thấy một tòa cung lớn, Tây Hải Thủy Quân đã dẫn đầu một đoàn tiểu tiên ăn mặc chỉnh tề, nghiêm trang xếp hàng đứng đón.

Vì ta được thượng thần Chiết Nhan dẫn tới Tây Hải, nên cho dù lão luôn miệng gọi ta là tiên sứ hầu việc cho lão, thì Tây Hải Thủy Quân cũng không dám khinh thường ta. Vẫn theo lễ, cung kính mời Chiết Nhan lên ngồi ngôi cao ở đại điện, cẩn thận rót trà đứng hầu, còn có rất nhiều tiên nga bưng hoa quả đến, để thượng thần Chiết Nhan dùng lúc nghỉ chân.

Chiết Nhan nghỉ chân, đương nhiên ta cũng làm theo.

Tám, chín nghìn năm trước, nhị ca Bạch Dịch của ta cũng từng ham mê văn chương, thường lấy về mấy tập thơ ở phàm giới, cùng ta ngâm ngợi. Trong đó có một bài do một đại tài tử được đám người trần gian công nhận là có tài mà không có đức viết nên, toàn bài thơ ta không còn nhớ nữa, nhưng vẫn nhớ hai câu trong đó, ấy là “Gần quê lòng càng khiếp sợ, không dám hỏi người đến là ai(35)”. Nhị ca giải thích cặn kẽ cho ta, nói là thi nhân đi xa quê hương, nhiều năm bặt vô âm tín, lần này lòng mong mỏi trở về, càng gần đến nhà thì lại càng không dám hỏi người bên cạnh về tin tức của người nhà. Hai câu thơ này đã bộc lộ hết nỗi lòng sợ hãi, lo âu của thi nhân, quả đáng gọi là đại tài. Lúc đó ta nghe những lời của nhị ca, trong lòng lại nghĩ khác, chỉ cảm thấy thi nhân này đã nhớ nhà da diết mà lại không không dám tiến bước, thì ông ta hơi biến thái, người bình thường chắc chắn sẽ không chần chừ như ông ta.

Đến ngày hôm nay, ta mới ngộ ra được ý tứ sâu xa của hai câu thơ kia, mới hiểu rằng thi nhân đó không phải là người biến thái, mà thực sự có tài năng. Vì lúc này, ngồi trên đại điện của Thủy Tinh cung tại Tây Hải, nỗi thấp thỏm trong lòng, cũng giống như nỗi lòng càng gần đến quê càng khiếp sợ, vừa muốn lập tức nhìn thấy hồn Mặc Uyên, lại sợ nhìn thấy ngay tức khắc.

Chiết Nhan cũng không nghỉ lâu, nhắm mắt uống hai ngụm trà, rồi nói là phải đi. Vì những lời đó là của thượng thần Chiết Nhan, nên Tây Hải Thủy Quân cho dù có lòng muốn giữ lão lại cũng ngại vẻ mặt nghiêm trang, lạnh lùng của lão, đành phải hô đám tiểu thần tiên ở Tây Hải tiền hô hậu ủng đưa tiễn lão.

Tiễn Chiết Nhan rồi, Tây Hải Thủy Quân vẫn giữ nét mặt buồn rầu, khiêm nhường, cẩn trọng nói mấy câu khách sáo, rồi đích thân dẫn ta đến thăm đại hoàng tử Điệp Ung. Ta hít một hơi thật sâu, toàn thân căng lên, chỉ sợ gặp Điệp Ung sẽ làm gì thất lễ.

Ta thầm nghĩ, Mặc Uyên đã đem hồn phách trú ngụ trên người đại hoàng tử Tây Hải, vậy thì khí trạch toàn thân của đại hoàng tử này hẳn sẽ gợi cho ta cảm giác thân thiết và quen thuộc, dáng vẻ của y có lẽ cũng phảng phất bóng dáng của Mặc Uyên. Nhưng đến khi cánh cửa điện Phù Anh của y được hai cung nga khẽ mở ra, ta bước theo sau Tây Hải Thủy Quân, nhìn thấy Điệp Ung đang đờ đẫn, đầu óc rối bù thì trái tim ta dần dần chùng xuống.

Chàng trai bệnh tật nằm trên giường kia, mày mắt tuy thanh tú nhưng khí lực quá yếu ớt, chẳng sao sánh được với Mặc Uyên. Còn khí trạch bên ngoài tấm thân, cũng lả lướt, chẳng có chút gì là cao lớn sâu xa.

Hễ nhìn thấy là lại cho người ta tin rằng trên người y mà có hồn phách của một chiến thần từng hô phong hoán vũ khắp bốn bể tám cõi trú ngụ, chẳng khác nào bắt người ta phải tin chim trống có thể đẻ ra trứng rồi ấp như chim mái.

Có lẽ hồn phách của Mặc Uyên ngủ đã quá say, chẳng để cho Điệp Ung hấp thu được chút tiên khí mạnh mẽ mà trầm ổn của người.

Tây Hải Thủy Quân đứng bên cạnh nói những lời đầy tâm sự rất lâu, đại ý là cho con trai của ông ta hay, vị tiên quân đứng trước mặt y chính là đệ tử của thượng thần Chiết Nhan. Từ rày về sau, căn bệnh mấy trăm năm không chữa khỏi của y, đều phải nhờ vào vị tiên quân này chữa trị, mong y hãy biết ơn, cẩn thận phối hợp với vị tiên quân này.

Haizz, “vị tiên quân này” chính là chỉ thượng thần bất tài ta đây.

Tây Hải Thủy Quân vẫn huyên thuyên, ta và Điệp Ung im lặng nhìn nhau.

Một nô tỳ của Điệp Ung mang một chiếc đôn thêu đến đặt trước giường, để ta ngồi bắt mạch cho Điệp Ung. Ta run run đưa tay cầm cổ tay y, mạch đập không hư không thực, không chậm không nhanh, không chìm không nổi, đúng như Chiết Nhan nói, mạch tượng bất thường.

Tây Hải Thủy Quân rất lo lắng, cuống quýt tiến tới hỏi: “Bệnh của tiểu nhi…”.

Ta gượng cười với ông ta: “Thủy Quân có thể cùng những người khác ra ngoài điện được không?”.

Đuổi đám người trong điện đi để ta tiện dùng truy hồn thuật tìm hồn phách của Mặc Uyên. Truy hồn thuật là một thuật pháp mạnh mẽ, nhưng cũng tùy đối tượng, nếu không phải đạt đến phẩm trật thượng thần, cho dù tiên pháp của anh có cao siêu đến đâu, thì cũng không thể thi triển nó. Hơn nữa, khi thi triển lại phải giữ cho khí trạch nội trong trăm thước vuông thanh tịnh, bình ổn, không được để người bên cạnh quấy rầy.

Khi ta bước vào điện, thì Điệp Ung ngây dại đó mới khẽ liếc ta một cái, ta cười với y rất hiền hòa, rồi một đao đâm tới. Điệp Ung mở to mắt, chớp hai cái, đổ nghiêng ngả ra giường.

Đã nhiều năm không thi triển truy hồn thuật, may mà chú ngữ phối hợp ta vẫn còn nhớ. Hai tay bắt ấn già, trong điện bỗng chói lòa một luồng sáng màu trắng, luồng sáng từ từ quấn thành một dải màu bạc, bay thẳng đến vầng trán cao rộng của Điệp Ung, rồi biến mất không để lại dấu vết. Ta thở phào một hơi, cẩn thận đẩy thần thức từ trong cơ thể ra, thuận theo hướng dải sáng bạc vừa đi, chầm chậm tiến vào nguyên thần của Điệp Ung. Đây luôn là một phép thuật đòi hỏi sự tỉ mỉ, chỉ sểnh một chút là sẽ trộn thần thức của người làm phép và người bị làm phép làm một, cho nên không thể lơ là.

Trong nguyên thần của Điệp Ung tràn đầy ánh sáng bạc hư ảo, nhưng sáng rõ, nhưng vì quá sáng rõ, nên cũng chẳng khác gì với đen tối. Ta quanh quẩn trong nguyên thần của y hồi lâu, cũng chẳng tìm ra được nơi hồn phách của Mặc Uyên ngủ say, tìm qua tìm lại vô cùng vất vả. Khi đang định rút ra để dùng truy hồn thuật một lần nữa thì bên tai vẳng lại tiếng nhạc vô cùng quen thuộc, dìu dặt du dương, khoáng đạt an nhàn, ta vẫn còn nhớ, giai điệu chính là khúc Đại Thánh Phật Âm mà Mặc Uyên dùng đàn Thái Cổ Di Âm tấu lên, khi pháp hội của Đông Thần Huyền Minh kết thúc năm xưa. Tim ta đập nhói lên, vội vàng tập trung, loạng choạng đi theo tiếng nhạc.

Nhưng khi chạm phải, thì Đại Thánh Phật Âm ngưng bặt.

Hai tay ta run rẩy sờ thứ ta vừa chạm phải, cảm giác mềm mại, ấm áp, giống như có một dải tiên khí chầm chậm bò quanh ngón tay, quấn quýt giữa các ngón. Thần thức không rơi lệ, nhưng vẫn cảm giác được khóe mắt cay xót. Trong mắt, trong đầu ta đều trống rỗng, lúc này, thứ mà ta chạm tới, chính là, chính là, hồn của Mặc Uyên.

Nhưng hồn phách của Mặc Uyên lại tang thương đến thế. Sư phụ Mặc Uyên của ta, chiến thần Mặc Uyên duy nhất trong khắp bốn bể tám cõi này, chiến hồn mạnh mẽ của người, giờ đây lại yếu ớt đến mức phải nhờ vào một dải tiên khí bảo vệ.

Chẳng trách Điệp Ung và Mặc Uyên chẳng hề giống nhau.

Nhưng vẫn con may, vẫn còn quay về, Chiết Nhan không lừa ta, người còn thân thiết hơn cha ta – Mặc Uyên, đã quay về.

Ở quá lâu trong nguyên thần của Điệp Ung, ban nãy thần thức lại bị một phen chấn động, nếu cứ dùng dằng mãi e rằng sẽ nguy hiểm. Cái hư không màu trắng bạc này tuy không thể nhìn rõ là vật gì, mang tâm trạng vừa lo vừa mừng, ta quỳ xuống vái lạy hồn Mặc Uyên hai cái, rồi cẩn thận ra bên ngoài.

Giải xong truy hồn thuật, Điệp Ung cũng từ từ tỉnh lại.

Y mở mắt nhìn ta, ngây ra hỏi: “Sao ngươi lại khóc? Không chữa được bệnh của ta phải không? Không chữa được bệnh cho ta cũng không cần đau lòng đến mức phát khóc như thế. Nếu cần phải khóc, thì là ta nên khóc mới phải. Người đừng khóc, ta như vậy cũng không sao, lâu ngày nên quen rồi”.

Ta sờ lên dải lụa trắng trên mặt, đúng là hơi ươn ướt, có lẽ ban nãy thần thức quá xúc động, làm liên lụy đến cả đôi mắt trên người, bèn dùng phép hong khô dải lụa trắng, ngại ngùng cười nói: “Ta mừng quá nên mới khóc”.

Y nhíu mày hỏi: “Ngươi ấy, ta còn tưởng ngươi là một kẻ mềm lòng, thấy bệnh của ta thì đồng cảm, khóc thương thay ta. Nào ngờ ngươi lại mừng khi ta chịu khổ”.

Ta dịu dàng vỗ lên vai hắn, khiêm nhường nói: “Đâu có, đâu có, đâu có vui lắm đâu”.

Chiết Nhan nói không sai, dựa vào tấm thân yếu đuối của Điệp Ung, hồn của Mặc Uyên ít nhất cũng mất bảy, tám nghìn năm điều dưỡng mới có thể khiến chính thân tỉnh lại. Nhưng nếu mượn được đèn Kết Phách của Thiên tộc để dùng, thì những phần hồn tán loạn sẽ được ghép lại hoàn chỉnh, rồi đem tu vi mười bốn vạn năm của ta độ cho người một nửa, thì việc người tỉnh lại chỉ là một sớm một chiều mà thôi.

Nhưng tuy ta sống đã ngần này tuổi mà vẫn chưa từng thấy cây đèn Kết Phách của Thiên tộc, mà chỉ đọc được trong sách vở. Những ghi chép này đều nói đèn Kết Phách do Phụ Thần của thời đại hồng hoang chế tạo, có thể kết hồn của thần tiên, tạo hồn cho người phàm.

Ví dụ như một vị tiên bị đánh tan hồn phách, nếu bị đánh tan tành, thì chỉ cần đặt đèn Kết Phách trên đầu giường người đó ba ngày, sẽ kết nối hồn phách của người đó như cũ. Còn nếu là người phàm thì càng siêu phàm hơn, cho dù người đó đã tan thành tro bụi, chỉ cần đem một thứ đồ có mang hơi hướm của người phàm trần này đến đốt trên đèn một lần, sẽ khiến đèn nhận ra chuẩn xác được hơi thở của người phàm đó, nó sẽ từ từ hút những khí trạch còn lưu lại của người đó trong khoảng ngàn dặm vuông. Đợi đến khi hút sạch khí trạch của người phàm đó lưu lại trong nhân gian, nó sẽ mô phỏng lại một hồn phách giống hệt như hồn phách đã bị đánh tan thành tro bụi kia.

Haizz, đúng là một thánh vật hạng nhất.

Ta làm phép cho Điệp Ung ngủ, rồi đi qua cửa điện Phù Anh, đám người vừa bị ta đuổi ra ngoài đang đứng thấp tha thấp thỏm một bên, người duy nhất không thấy đâu là Tây Hải Thủy Quân. Cung nga dẫn đầu rất tinh ý, ta chưa mở miệng hỏi, nàng ta đã quay sang chào: “Vừa có khách quý tới, Thủy Quân đã ra đại điện đón khách rồi. Nếu là những việc vặt vãnh, tiên quân chỉ cần sai bảo chúng nô tỳ là được ạ”.

Khụ khụ, hóa ra Tây Hải lại có khách quý nữa tới. Hôm nay Tây Hải Thủy Quân thật là vinh hạnh, hai thượng thần uy danh hiển hách là bản thượng thần và thượng thần Chiết Nhan giá lâm địa giới của ông ta, đã đủ khiến cho Thủy Tinh cung của ông ta sáng láng rạng rỡ, đã may mắn một lần giờ lại may mắn thêm, lại đón thêm một khách quý nữa. Haizz, vận may lớn thế này, chắc bảy, tám nghìn năm nay ông ta mới có.

Ta cũng chẳng có gì phải dặn dò họ, chỉ cần lập tức lên Cửu Trùng Thiên một chuyến, tìm Thiên Quân hỏi mượn đèn Kết Phách. Nhưng hiện giờ vai ta đang sắm lại chẳng có vai vế gì, nên không thể thoải mái đi đi về về, thế nên trước khi đi, còn phải đích thân đi nói một tiếng với Tây Hải Thủy Quân. Ta chọn đại hai cung nga, nhờ họ dẫn đến đại điện đón khách của Tây Hải Thủy Quân, đám còn lại ở lại hầu hạ Điệp Ung.

Vị khách quý của Tây Hải Thủy Quân không hề tầm thường.

Trước cửa đại điện là hai hàng dài tiểu thần tiên, dáng vẻ cung kính chắp tay đứng chờ. Nhìn lướt qua mặt họ, ta nhận ra đó chính là những người khi Tây Hải Thủy Quân đón tiếp Chiết Nhan.

Có thể thấy người đến tuy phẩm vị không bằng Chiết Nhan, nhưng chức vị thì có thể còn cao hơn hẳn. Ta vội thông báo chuyện cần gặp Tây Hải Thủy Quân đang đứng cách hai dãy tiểu thần tiên của Tây Hải, ngay sau đó, có hai cung nga ăn mặc hoa lệ bước ra, dẫn ta vào trong điện.

Bản thượng thần đoán chẳng nhầm, phẩm vị của vị khách này không cao bằng Chiết Nhan, nhưng chức vị thì đúng là cao hơn Chiết Nhan.

Vị khách quý này chính là người đã tức giận với ta, thái tử của Thiên Quân trên Cửu Trùng Thiên – Dạ Hoa.

Lúc ta bước vào, hắn đang dùng tay chống má, ngồi tựa vào chiếc ghế khắc hoa bằng gỗ tử đàn, nét mặt uể oải, nhăn mày nhăn mặt, sắc mặt trắng bệch như tờ giấy. Quần áo mặc trên người vẫn là đồ mặc chiều hôm qua, tóc chưa chải lại, vẫn giống như lúc ở Thanh Khâu, chỉ dùng một dải lụa đen buộc túm lại ở phần đuôi tóc.

Ta nhìn xung quanh chẳng thấy Tây Hải Thủy Quân ở trong đại điện, lại nghĩ đến câu mà ta đã nói với hắn trong “Nhất Lãm Phương Hoa”, khi hắn bế cục bột nhỏ đi, máu nóng xộc lên, hừ mũi một tiếng, rồi quay người phảy tay áo toan bỏ đi.

Ta đứng cách hắn khoảng sáu, bảy bước chân, lúc phảy tay áo bỗng thấy có cơn gió nhẹ xao động phía sau, khi phản ứng kịp thì đã bị hắn kéo lại.

Vì ta định quay gót đi thực chứ không phải làm bộ làm tịch, nếu chỉ là một cái kéo nhẹ nhàng thì ta đã không hề suy chuyển.

Hẳn hắn cũng biết nên cái kéo này rất mạnh. Hôm nay ta đã suy xét sự tình rất chu toàn, nhưng chẳng ngờ hắn lại to gan như vậy, không coi phong độ thượng thần phải khổ luyện suốt mười bốn vạn năm ra gì nên dám chặn ta lại. Thế là, chỉ vô ý một chút đã bị hắn kéo cho loạng choạng, rồi lao thẳng vào lòng hắn.

Tiên khí mạnh mẽ của ta đẩy cho hắn lui ba, bốn bước, đập thẳng vào cột trụ bằng thủy tinh lớn chính giữa điện, nhưng hắn vẫn cắn chặt môi, nhất quyết không chịu buông tay, sắc đen thẫm ánh lên trong đôi mắt.

Hắn xiết rất mạnh tay, ta giằng co hồi lâu mà không giằng ra được, đang định dùng phép thuật thì hắn quay người lại, khóa chặt hai tay ta, áp sát người lại, ép chặt ta vào tường. Tư thế này thực sự rất mờ ám, lúc ở trần gian ta từng xem những bức xuân cung đồ vẽ màu, trong đó có một bức giống thế này.

Thần trí còn ở đẩu đâu thì bỗng cảm thấy ở cổ hơi đau. Hắn, hắn, hắn, hắn cắn ta! Răng, răng hắn sắc quá đi mất!

Tất cả đều thiên thời địa lợi nhân hòa, giúp hắn ép mạnh ta, ta không thể phản kháng lại. Hắn thở hổn hển, môi lưỡi chậm rãi mơn trớn cổ ta, đầu óc ta tỉnh táo mà cơ thể lại không ngừng run rẩy. Có một thứ cảm xúc không tên đang trỗi dậy, hai bàn tay bắt đầu thả lỏng, nhưng thả lỏng không phải để đẩy hắn ra, mà dường như muốn thoát khỏi sự điều khiển của ta, để ôm hắn thật chặt.

Trong đầu ta bỗng vẳng lên một giọng nói thật xa xăm, hư hư ảo ảo, hắn nói: “Nếu ta chẳng có gì, nàng có bằng lòng theo ta không?”, lập tức có một người con gái khẽ cười đáp: “Ngoài thanh kiếm trong góc tường kia, chàng chẳng có gì hết, mà thanh kiếm đó, ngoài chẻ củi ra thì chẳng có tác dụng gì, thiếp cũng đâu có chê chàng”.

Từng câu từng chữ ngốc nghếch đó khiến đầu óc ta trở nên mơ hồ, hỗn độn, có cảm giác từ đầu đến chân đều không còn là của mình nữa, tận đáy lòng trào dâng một khát vọng tựa như đã đợi chờ cả triệu năm, khát vọng ấy khóa chặt ta lại, khiến ta không nhúc nhích được. Một tay hắn mở vạt áo trước của ta ra, làn môi nóng bỏng trượt từ xương quai xanh xuống, cho đến chỗ trái tim, vì đã lấy máu nuôi Mặc Uyên bảy vạn năm nên ở tim ta luôn có một vết sẹo dài chừng mười phân, lõm xuống rất sâu. Cánh tay trái hắn kìm chặt hai tay ta hơi gồng lên rồi càng xiết chặt hơn, làn môi hết lần này đến lần khác chà lên vết sẹo ở tim ta. Ta ngẩng đầu khẽ rên một tiếng, chỗ bị hắn hôn bỗng đau nhói, còn đau hơn cả bị dao đâm.

Cơn đau ấy đã kéo ta về với thực tại, toàn thân mất hết sức lực, cả người men theo bức tường từ từ trượt xuống.

Cuối cùng hắn cũng buông tay. Hai cánh tay ta đã được tự do, chẳng nghĩ ngợi gì, ta vung tay tát hắn một cái. Nhưng buồn thay cái tát đó mới đi nửa chừng đã bị hắn giữ lại, rồi kéo ta vào lòng hắn. Cánh tay phải của hắn lại thọc sâu vào lớp áo còn chưa kịp khép lại của ta, áp vào chỗ tim, mặt vẫn trắng bệch như tờ giấy, hai mắt lại sáng rỡ. Hắn nói: “Bạch Thiển, chỗ này của nàng, có dành cho ta vị trí nào không?”.

Hắn đã hỏi ta câu này hai lần, nhưng ta thực sự không biết phải trả lời hắn ra sao. Trong tim ta đương nhiên có hắn, nhưng ta không biết vị trí mà hắn nói và vị trí mà ta nói có giống nhau hay không. Hai ngày gần đây, những lúc chỉ có một mình, ta cũng thầm ngẫm nghĩ, trong lòng ta hắn chiếm vị trí gì? Nghĩ đi nghĩ lại, đến đau cả đầu.

Bàn tay nóng rẫy của hắn dính lấy ngực ta rồi dần dần lạnh đi, ánh sáng trong mắt cũng dần dần u ám lại, chỉ còn lại một màu đen trầm lắng, hồi lâu sau, hắn mới bỏ tay ra, chậm rãi nói: “Nàng đợi đã bao năm như vậy là đợi người đó quay về, giờ người đó đã quay về, trái tim của nàng đương nhiên sẽ không thể dành chỗ cho người khác, là ta vọng tưởng mà thôi”.

Ta ngẩng phắt đầu lên nhìn hắn: “Sao ngươi biết Mặc Uyên trở về?”. Tuy rằng không hiểu hết ý tứ trong lời nói của hắn, nhưng Mặc Uyên là Mặc Uyên, hắn là hắn, Mặc Uyên quay về hay không quay về đâu có quan hệ với hắn chiếm vị trí gì trong lòng ta. Nhưng việc Mặc Uyên quay về, theo lý mà nói chỉ có ba người Chiết Nhan, tứ ca và ta biết thôi, cùng lắm là có thêm Mê Cốc và Tất Phương, vậy hắn nghe được từ đâu?

Hắn quay đầu nhìn ra ngoài điện, hững hờ nói: “Cái đêm trước khi trở về Thiên Cung, thượng thần Chiết Nhan đã nói với ta. Ban nãy ta đến Thanh Khâu tìm nàng, giữa đường gặp ông ấy, hàn huyên với ông ấy vài câu. Ta không chỉ biết người ấy đã quay về, mà còn biết để người ấy sớm tỉnh lại, nàng nhất định sẽ đến Thiên Cung mượn đèn Kết Phách”. Hắn ngừng lại giây lát, rồi nói tiếp: “Mượn được đèn Kết Phách rồi, nàng định làm gì tiếp theo?”.

Xem ra những gì nên nói hay không nên nói thì Chiết Nhan cũng nói cả rồi. Ta sờ trán, thở dài: “Đến Doanh Châu lấy cỏ Thần Chi, độ cho sư phụ tu vi bảy vạn năm, để người mau tỉnh lại”.

Hắn quay ngoắt đầu lại, trên khuôn mặt trắng bệch, đôi mắt đen lại càng thăm thẳm hơn, nhìn ta rất lâu, rồi gằn từng tiếng: “Nàng điên rồi”.

Vì tiên trạch của mỗi thần tiên là không giống nhau, khi thần tiên độ tu vi cho nhau, nếu độ quá nhiều thì rất dễ làm rối loạn khí trạch của bản thân, rối loạn tu vi, cuối cùng sẽ rơi vào ma đạo. Còn cỏ Thần Chi lại chính là loại cỏ thiêng dùng để làm trong sạch tiên trạch, lần này ta phải độ cho Mặc Uyên tu vi bảy vạn năm, để tránh chữa lợn lành thành lợn què, nên mới cần tới cỏ Thần Chi để dự phòng bảo vệ, dùng tu vi bảy vạn năm của ta và cỏ Thần Chi luyện thành một viên tiên đan, đưa cho Điệp Ung uống, chỉ không đầy ba tháng, Mặc Uyên sẽ tỉnh lại.

Vì cỏ Thần Chi có công dụng thần kỳ như vậy, năm xưa Phụ Thần lo rằng một số tiểu thần tiên không tu hành theo con đường chính đạo, nên đã hủy hết cỏ Thần Chi trong bốn bể tám cõi, chỉ giữ lại một ít ở Doanh Châu của Đông Hải. Nhưng chỗ cỏ này cũng được bốn con ác thú là Hỗn Độn, Đào Ngột, Cùng Kỳ và Thao Thiết canh giữ. Sau khi Phụ Thần ra đi, bốn con ác thú đã được nhận một nửa thần lực của Phụ Thần, càng trở nên hung dữ hơn. Còn nhớ năm xưa, khi mẹ muốn độ tu vi cho ta ở trong động Viêm Hoa, cha đã vì ta đến Doanh Châu lấy một ít cỏ Thần Chi, khi về mình đầy thương tích. Khắp cõi trời đất chẳng có mấy thần tiên có tu vi sánh với cha ta, vậy mà ông vẫn bị ác thú canh cỏ Thần Chi đánh cho tơi tả, lần này ta đi, đúng như hắn nói, chẳng khác gì một kẻ điên, chắc chắn sẽ bị trọng thương.

Vốn dĩ Dạ Hoa đứng cách ta chỉ ba bước, sau khi buông ta ra, ta vẫn đứng tựa vào cây cột đá. Hắn chỉ giơ tay lên là đã đẩy ta vào giữa cây cột, hai mắt tối sầm, nghiến răng nói: “Vì người ấy, nàng không cần cả tính mạng sao?”. Rõ ràng ta mới là người bị đẩy vào vậy mà vẻ mặt của hắn lại như thể hai chúng ta đã đổi vai.

Câu nói ấy của hắn thật lạ lùng, nếu ta thực sự không đánh nổi bốn con ác thú, thì chỉ cần quay đầu bỏ chạy, đâu cần phải đánh đổi bằng cả tính mạng? Nếu không lấy được cỏ Thần Chi, thì ta lại đợi sư phụ thêm bảy, tám nghìn năm nữa mà thôi.

Nhưng nhìn gương mặt nhợt nhạt lại vừa nghiêm túc của hắn, ta bỗng nhớ ra một chuyện vô cùng cấp bách. Nếu theo tốc độ tu hành bình thường của ta, ta vừa bị trọng thương lại vừa thiếu tu vi bảy vạn năm, ít nhất cũng phải mất ba, bốn vạn năm nữa mới có thể tỉnh lại. Trong ba, bốn vạn năm ấy, đương nhiên sẽ không thể có một Thiên hậu kế vị chịu gánh tám mươi mốt ngọn lửa, chín tia sấm sét, xưa nay chưa từng nghe một Thiên đế nào khi kế vị mà chưa lập Thiên hậu, nếu tiếp tục để hôn ước này bó buộc chúng ta với nhau cũng không được thỏa đáng lắm.

Ta hắng giọng một tiếng, ngẩng đầu lên nhìn hắn nói: “Hôn ước của chúng tay hay là hủy đi!”.

Hắn choáng váng, nói: “Nàng nói cái gì?”.

Ta gỡ tay hắn ra, lần đến bên bàn, rót một tách trà, nghe thấy tiếng mình vang lên khô khốc: “Chuyện này chẳng can hệ gì với ngươi, chẳng qua là do năm xưa Tang Tịch đã sai lầm, khiến Thanh Khâu nhà ta mất thể diện, Thiên Quân vì muốn gắn kết hai nhà, nên mới định ra hôn ước chẳng ra sao này. Lần này là do Thanh Khâu nhà ta từ hôn trước, chúng ta đường ai nấy đi, những chuyện trước kia, sau này không ai nợ ai”.

Mãi lâu sau hắn vẫn không có động tĩnh gì, quay lưng lại phía ta rất lâu mới lên tiếng: “Đêm nay, nàng đến phòng ta một lần đi, đèn Kết Phách không ở trên trời, mà ở chỗ ta”. Dứt lời, bèn quay người lại nhìn ta, rồi đi thẳng ra ngoài điện, nhưng suýt chút nữa thì va vào một cây cột thủy tinh khác.

Ta đáp lại khô khốc: “Cẩn thận”.

Hắn khựng lại, đưa tay sờ lên trán, lạnh lùng nói: “Chẳng qua ta luôn vọng tưởng mà thôi, nhưng ta nợ nàng bao nhiêu, nàng nợ ta bao nhiêu, e rằng số phận đã chẳng thể làm rõ được”.

Chiếc bóng cao dài của hắn, càng nhìn càng thấy lẻ loi.

Chú thích:

34. Vọng, văn, vấn, thiết: Bốn phép khám bệnh cơ bản của Đông y, gồm vọng (nhìn), văn (nghe), vấn (hỏi), thiết (sờ, chạm) (ND).

35. Nguyên văn: Cận hương tình càng khiếp, bất cảm vấn lai nhân (ND).

05Feb/17

TAM SINH TAM THẾ – THẬP LÝ ĐÀO HOA – Hồi 17

Mưa máu gió tanh, cũng thành tro bụi

Ngủ đến nửa đêm, bên ngoài có người gõ cửa cộc cộc.

Vì lạ giường nên ta ngủ không được sâu, vừa nghe người đó đập cửa một cái, liền đứng dậy với áo choàng rồi ra mở cửa.

Dưới ánh sao lạnh lẽo bên ngoài, lại là Nại Nại mắt hoe đỏ đang đứng trước mặt ta, trong tay là cục bột nhỏ đang chìm sâu vào trong giấc ngủ. Vừa nhìn thấy ta, cặp mày đang chau lại đã giãn ra, vội vàng thưa chuyện: “Hôm qua thượng thần nói canh ba là tiểu điện hạ sẽ tỉnh lại, bây giờ đã qua canh ba rồi, tiểu điện hạ vẫn không có dấu hiệu tỉnh lại, ngược lại gương mặt lại càng lúc càng đỏ, tiểu tì rất lo, những cũng chẳng có cách nào, mới phải kinh động đến thượng thần…”.

Cơn ngái ngủ lập tức tan đi một nửa, Nại Nại bước vào phòng châm nến, ta ôm cục bột nhỏ lên giường, sờ nắn một lượt từ đầu đến chân mới thấy yên tâm trở lại.

Tửu lượng của trẻ nhỏ đương nhiên là rất thấp, nhưng ta không ngờ tửu lượng của cục bột nhỏ lại thấp đến mức này. Thấy Nại Nại vẫn rất sốt ruột, ta bèn cười, an ủi nàng ta: “Trẻ nhỏ bình thường bị say rượu trái cây thì canh ba là tỉnh dậy, nhưng lần này ta đã đánh giá thấp cục bột nhỏ, xem ra nó sẽ ngủ tới tận sáng mai. Mặt nó đỏ phừng phừng như thế này là tốt, ấy là do hơi men bốc lên, ngươi đừng lo lắng quá”.

Nại Nại liền thở phào nhẹ nhõm.

Ta nhìn đôi mắt đỏ hoe của nàng ta, giật mình, nói: “Chắc từ lúc bế cục bột nhỏ về ngươi vẫn thức suốt, phải không?”.

Nàng ta ngại ngùng cười cười.

Bản thượng thần là một thượng thần biết nghĩ cho người khác, đương nhiên không chịu nhìn Nại Nại nửa đêm thức trắng như thế này, nên đã cởi áo của cục bột nhỏ ra, đắp chăn mây lên, đẩy nó vào nằm một bên giường, rồi cười hiền hòa với Nại Nại: “Lát nữa ta độ chút tiên khí cho nó, đảm bảo ngày mai nó lại chạy nhảy tung tăng, nhưng trẻ nhỏ uống rượu khi tỉnh dậy nên ăn chút cháo loãng, ngươi cứ về ngủ trước đã, dưỡng sức sáng mai còn nấu cháo mang qua đây”.

Nại Nại ngần ngừ một lát, nói: “Nhưng e rằng tiểu điện hạ sẽ quấy rầy thượng thần nghỉ ngơi…”.

Ta khẽ vỗ vỗ vào gương mặt của cục bột, nói: “Ngươi nhìn nó ngủ say thế này, giờ có lăn nó đến điện Khánh Vân, nó cũng không biết, làm sao có thể quấy rầy ta nghỉ ngơi được”. Nại Nại nhoẻn cười, quỳ xuống chào ta, rồi thổi tắt nến, mới cung kính lui gót.

Mặc dù cục bột nhỏ không hề hấn gì, nhưng khuôn mặt và cơ thể không ngừng vã mồ hồi, bề ngoài nhìn như ngủ rất say, nhưng thực sự là rất khó chịu. Ta lấy một chậu nước, làm phép khiến cho căn phòng ấm lên một chút, rồi giở chiếc chăn mây mà nó đang đắp ra, cởi hết quần áo của nó, lau người cho nó từ canh tư cho đến khi mặt trời mọc.

Đêm nay chẳng phải là đã quấy rầy ta nghỉ ngơi sao? Ta ngậm ngùi trong lòng, rồi lại mặc từng chiếc áo vào cho cục bột, giờ mới hiểu rằng nuôi một đứa trẻ không dễ dàng gì, trong lòng không khỏi thán phục Dạ Hoa.

Lúc Nại Nại bưng cháo tới, ta vẫn đang thu dọn, còn chưa kịp bưng chậu nước đi.

Nại Nại im lặng nhìn chậu nước dưới sàn, lặng người chốc lát, rồi quỳ xuống vắt chiếc khăn trong chậu, bê chậu nước đi.

Lúc nàng ta đẩy cửa trở vào ta đã rửa mặt xong, đang ngồi nếm cháo. Bát cháo này vừa ngon vừa mát, sợ trẻ con kén ăn, còn cho thêm đường. Đêm qua ta sai nàng ta quay về nấu cháo thực ra chỉ là kiếm cớ, lúc đó ta biết rằng, hôm nay cục bột nhỏ sẽ không sớm tỉnh lại. Bản thượng thần thật anh minh, hôm nay quả nhiên cục bột nhỏ vẫn mê man, chưa hề tỉnh lại, tất nhiên chẳng thể ăn được bát cháo ngọt này.

Ta bần thần nhìn bát cháo.

Nếu như bát cháo kia cũng biết suy nghĩ, nó sẽ nghĩ mình khổ sở bị đảo qua đảo lại trong nồi lâu như thế, khó khăn lắm mới được đơm lên bát, nhưng giờ đây đành chờ nguội đi, rồi bị đổ bỏ, hẳn sẽ buồn rầu ai oán biết bao.

Nghĩ thế nên ta sụt sùi mấy tiếng.

Nại Nại mỉm cười: “Tiểu điện hạ vẫn chưa tỉnh lại, cháo để nguội sẽ không ngon, thượng thần vẫn chưa ăn sáng phải không ạ? Nếu không chê, xin thượng thần nếm thử tài nghệ của tiểu tì”.

Nàng ta đã có lời như thế, sau khi khách sáo từ chối hai lần, ta cũng cười hì hì dùng bữa. Ăn hết báo cháo đó, mười tám tiên nga hầu hạ ta ngày hôm qua đã đến trước mảnh sân vuông nhà ta, hai người đứng đầu bê đồ ăn sáng, mười sáu người còn lại thì bưng các loại hoa quả. Ta thầm thở dài, đúng là đẳng cấp của thiên giới, Linh Bảo Thiên Tôn đãi khách quá hậu, quá chu đáo.

Ta đã ăn sáng rồi, định bảo hai tiên nga dẫn đầu bưng đồ ăn sáng đi, nhưng nhìn thấy trong đĩa đựng rất nhiều loại bánh điểm tâm, cục bột nhỏ đã ngủ gần một ngày rưỡi, tỉnh lại chắc là sẽ đói bụng, thế nên sai hai nàng để đồ ăn lại. Ta chỉ giữ lại Nại Nại ở trong phòng để trông cục bột nhỏ, còn ta đi cùng đám tiên nga ấy tới ngâm nước suối trời ở chỗ Linh Bảo Thiên Tôn.

Những con đường trên Cửu Trùng Thiên được điểm xuyết bởi rất nhiều những hòn non bộ vừa lớn lại vừa dài dằng dặc, nhìn trông rất đẹp mắt, nhưng lại không hề tiện lợi. Một số con đường vốn rộng rãi, nhưng ở giữa lại đặt những tảng đá lớn, dài, bèn bị tách thành hai con đường hẹp.

Nếu đi trên những con đường như thế sẽ phải chú ý, tuyệt đối không được nói chuyện thị phi của người khác, nếu không bên kia tảng đá, chính là nhân vật chính của chuyện thị phi này, thực không hay chút nào cả. Nếu như vị chủ nhân này là một người vừa lợi hại vùa nhỏ nhen thì càng không hay nữa.

Như bây giờ, bên kia tảng đá là hai tiểu tiên nga không biết là người hầu ở chỗ nào, thực sự cần phải cảm kích lòng độ lượng của bản thượng thần, không phải là nhân vật chính nhỏ nhen, nếu người hôm nay hai nàng ta gặp phải là Ti Mệnh Tinh Quân thì…. chậc chậc chậc.

Ban đầu ta dừng bước, chỉ vì hai tiểu tiên nga đang nhắc đến công chúa Mậu Thanh. Đêm qua ta không đợi đến khi Dạ Hoa xử lý xong mà đã quay về nhà nghỉ, tuy cảm thấy quá trình công chúa Mậu Thanh và Tố Cẩm làm loạn lên thật là vô vị, nhưng cũng có chút hứng thú với kết quả. Giống như xem một câu chuyện, tuy mới xem được một nửa, đã đoán được kết cục rồi, một nửa quá trình còn lại cũng có thể đại khái đoán được, nhưng rốt cuộc vẫn phải lật đến đoạn kết, để xem xem mình đoán có đúng không. Bây giờ, đúng là ta đang có tâm trạng này.

Một trong hai tiểu tiên nga đó nói: “Mậu Thanh đến từ Tây Hải đó, lần đầu tiên tôi gặp nàng ta đã biết nàng ta là một kẻ không chịu an phận, đêm qua quả nhiên xảy ra chuyện”. Người kia đáp: “Cũng không biết nàng ta đã phạm phải lỗi gì, ta hỏi Hồng Uyên tỷ tỷ về chuyện tối qua của Dạ Hoa Quân, tỷ ấy nhất định không chịu nói, còn mắng cho ta một trận nữa”.

Người trước than: “Có lẽ là một chuyện không muốn để người khác biết, mới khiến quân thượng nhất định phải đuổi Mậu Thanh về Tây Hải. Lại nghe nói đêm qua nương nương của chúng ta đến cầu xin cho Mậu Thanh, còn quỳ nửa đêm liền trong thư phòng của quân thượng”.

Người sau lại than một tiếng: “Sao nương nương phải làm thế, có điều nói lại thì nương nương của chúng ta đúng là một vị nương nương có một không hai, xinh đẹp lại hiền lành, không hiểu sao quân thượng lại không sủng ái người. Từ khi ta được phân tới điện của nương nương, còn chưa bao giờ thấy quân thượng đến thăm nương nương. Lần trước tên thiếu gia do ả mãng xà ở Bắc Hải sinh ra quấy rối nương nương, Thiên Quân thì giận dữ đùng đùng, ấy vậy mà khi lúc Tuyết Chúc tỷ tỷ chạy đến thư phòng báo cho quân thượng, quân thượng còn chẳng thèm ngẩng đầu lên nhìn”.

Người trước cũng thở dài một tiếng: “Bây giờ quân thượng đã bị thượng thần cửu vỹ hồ ở Thanh Khâu mê hoặc, ta nghe nói Tiên tộc cửu vỹ hồ chuyên mê hoặc người. Vị thượng thần này sẽ là chính phi của quân thượng. Bây giờ ả còn chưa kết hôn với quân thượng, đã bám dính lấy quân thượng như thế, không biết sau này kết hôn rồi sẽ như thế nào. Mấy tháng trước quân thượng bị ả quấn lấy, ở suốt Thanh Khâu, nương nương sợ quân thượng đắm chìm trong tư tình mà bỏ bê chuyện triều chính, nên mới sai Khinh Họa tỷ tỷ đến Thanh Khâu nhắc nhở, nào ngờ đã uổng công, bị đuổi quay về”.

Người sau bèn than tiếp: “Haizz, nương nương của chúng ta hiền lương từ bi thế, sau này sẽ bị vị thượng thần ở Thanh Khâu ấy giày vò mất thôi”.

Hai người im lặng một lát, bên này mười tám tiên nga đi cùng ta đều nín thở, hai tiên nga dẫn đầu bèn đi qua tảng đá đó.

Ta giơ quạt chặn họ lại. Hai tiên nga ấy sợ sệt nhìn ta, ta chỉ cười xòa với họ.

Hai tiểu tiên nga bên kia đang cao hứng, sự im lặng kia chỉ là tạm thời mà thôi, hẳn là họ đang cảm khái cho Tố Cẩm. Vì ta đã từng trải qua những năm tháng tuổi trẻ như họ, nên hiểu rằng ngay sau đó họ sẽ nhắc cửu vỹ bạch hồ chuyên mê hoặc người là ta.

Sống đến ngần này tuổi quả nhiên không uổng. Một tiên nga cất tiếng: “Tỷ có nghe nói, vị thượng thần ở Thanh Khâu đó đã mười bốn vạn tuổi không?”.

Người kia kinh ngạc kêu lên: “Những mười bốn vạn tuổi á! Vậy vậy vậy chẳng phải là bà già sao? Hơn quân thượng những chín vạn tuổi, có thể làm bà nội của quân thượng rồi! Da mặt ả dày thật đấy, tuy là có hôn ước với quân thượng, nhưng hơn quân thượng nhiều tuổi như vậy mà đòi chiếm quân thượng, đúng là quá lắm”.

Người trước cũng hùa theo: “Đúng thế đúng thế, già mà còn không biết xấu hổ, chắc chắn là dùng phép thuật để mê hoặc quân thượng đây mà. Híc, chỉ hy vọng quân thượng sớm nhìn rõ bản chất của thượng thần ấy, hiểu được tấm chân tình của nương nương nhà ta đối với người, trở về bên cạnh nương nương”.

Những lời này coi như là tổng kết rồi, có lẽ các nàng ta tám chuyện đã tận hứng.

Cứ tưởng chỉ được nghe tin đồn về Mậu Thanh, nào ngờ nô tỳ của thứ phi Tố Cẩm lại nói xấu ta. Những lời của họ mới cay độc làm sao, nếu ta vẫn còn là Tiểu Thập Thất trên núi Côn Luân năm nào, chắc chắn sẽ dạy cho các nàng ta biết thế nào là lễ độ. May mà đã thanh tu bảy vạn năm, bây giờ ta đã đạt đến cảnh giới quên mất mình là mình, coi mọi chuyện thế gian chỉ như mây bay ngang trời, chẳng buồn tính toán với họ, chỉ vẫy hai tiên nga định đi qua tảng đá lại, che quạt, nén giọng hỏi: “Ta vẫn còn nhớ, trong quy củ của thiên giới, có một điều luật là không được bàn bừa chuyện của thượng thần phải không?”. Hai tiểu tiên nga ấy ngây ra, gật đầu kêu đúng, lại vội vàng nói: “Những lời nói bậy của hai cung nga đã đã khiến thượng thần nổi giận, bọn tiểu tì sẽ phải báo lên cấp trên, trừng phạt bọn họ, chỉnh đốn quy củ”.

Ta hắng giọng một cái, nói: “Giận thì không giận, nhưng vô tình nghe những lời này, không được quen tai lắm thôi”, rồi gấp quạt lại, vỗ vỗ lên vai họ, dịu dàng nói: “Tuy nói vậy nhưng ban nãy hai ngươi cũng thật lỗ mãng quá, nói xấu người khác sợ nhất là bị phá hỏng giữa chừng. Nếu vừa nãy các ngươi đi qua đó, sẽ khiến hai tiểu tiên nga ấy xấu hổ nhường nào, bối rối biết bao. Người ta đã phạm phải quy củ của thiên giới, sớm muộn cũng bị trừng phạt, vậy thà cứ để người ta nói cho sướng miệng đi, các ngươi cũng có thể theo lý là trừng phạt cho sướng tay. Thiên Cung lớn như thế này, vẫn nên để người ta hiểu rằng, quy củ được lập ra không phải là để không, phải không? Nhưng nói lại, trong hậu cung kỵ nhất là ầm ĩ, hai tiểu tiên nga này tính tình có hơi hoạt bát, không thích hợp sai bảo ở đây, các ngươi nên suy nghĩ, tìm một cung thích hợp cho người ta”.

Hai tiểu tiên nga rất nghe lời, liên tục gật đầu khen phải.

Hai nàng đi chấp pháp, mười sáu tiên nga phía sau thì vẫn theo hầu ta.

Ngày hôm nay ngâm nước suối, vì không có cục bột nhỏ nghịch nước bên cạnh, nên ta cảm thấy hơi chán.

Trong mười sáu tiên nga theo hầu có hai người thạo âm luật, ta bèn bảo họ gảy đàn tỳ bà, để cho ta giết thời gian. Tuy họ đàn rất hay nhưng cũng không thể so được với Mặc Uyên năm nào. Ban đầu nghe còn thấy mới mẻ, nhưng càng nghe lại thấy càng nhạt nhẽo, nên ta bảo họ thôi không đàn nữa.

Tiếp tục ngâm mình thêm một lát rồi ta mặc lại xiêm y, bảo mười sáu tiên nga đứng nguyên tại chỗ, còn mình thì lựa mấy quyển sách đem từ khu nhà “Nhất Lãm Phương Hoa” tới, vừa ngâm mình vừa đọc, cũng có thể giết thời gian.

Vừa đi tới cổng của “Nhất Lãm Phương Hoa”, đang định đẩy cửa bước vào, thì cánh cửa bỗng bật mở ra. Trong tay Dạ Hoa đang bồng cục bột nhỏ vẫn li bì, một cánh tay đẩy cửa, nhìn thấy ta hắn lại ngây người ra, rồi cau mày lại.

Khi mới gặp Dạ Hoa ở Thủy Tinh cung ở Đông Hải, ta đã biết là hắn không dễ gần, là một thiếu niên lạnh lùng. Chỉ là từ khi qua lại với ta tới nay, dường như hắn chưa từng tỏ vẻ lạnh lùng trước mặt ta, lúc nào cũng cười như gió xuân thoảng qua, khiến ta quên đi mất bản tính lạnh lùng của hắn. Vẻ mặt hiện giờ của hắn quả thực khiến ta cũng phải rùng mình.

Mắt hắn sầm lại, mãi sau mới cất tiếng: “A Ly giống như bị uống say, ta hỏi kỹ, nó ngủ từ tối qua đến giờ vẫn chưa tỉnh, rốt cuộc là sao?”.

Ta nhìn cục bột nhỏ mặt đang đỏ hồng trong lòng hắn, bình tĩnh đáp: “Chẳng qua hôm qua ta cho nó uống hai bình rượu, khiến nó say thôi mà”.

Hắn cau mày: “Nó uống say, ngủ tới giờ chưa tỉnh, sao nàng không báo cho ta một tiếng, cũng không đưa nó tới phủ Dược Quân xem sao?”.

Ta kinh ngạc thốt lên: “Sao lại chiều chuộng trẻ con như vậy, lúc còn nhỏ ta uống trộm rượu của Chiết Nhan, say bốn, năm ngày chưa tỉnh, đâu có thấy cha mẹ ta đưa ta đi chạy chữa. Cục bột nhỏ lại không phải là một cô nương, ngươi chiều chuộng nó như thế, khó mà tránh khi lớn lên nó sẽ ẻo lả, yếu đuối”.

Hắn im lặng một hồi, rồi bước qua ta, gằn giọng: “A Ly không phải do nàng nuôi lớn, nàng luôn chỉ coi nó là con ghẻ, chưa bao giờ yêu thương nó như con ruột phải không? Nếu A Ly là con do nàng dứt ruột đẻ ra, thì ngày hôm nay nàng có nói như vậy không?”. Ta lặng người, đến khi phản ứng lại với những lời của hắn thì cảm thấy toàn thân lạnh toát.

Trước đây thường nghe người ta nói là “lạnh thấu tim”, ta còn tự hỏi mãi lạnh thấu tim là lạnh như thế nào, giờ đây rốt cuộc đã được nếm trải mùi vị ấy.

Tuy ta chưa từng sinh con, nhưng cũng hiểu rằng, nếu là đứa con do Bạch Thiển ta dứt ruột đẻ ra, thì có lẽ hắn cũng sẽ chẳng đau lòng như thế. Ta thương xót cục bột nhỏ nhỏ dại, mẹ nó đã nhảy xuống Tru Tiên đài, sống trên đời ba trăm năm mà không có mẹ chở che, đáng thương biết bao, từ trước tới giờ ta đối với cục bột nhỏ đều là thật lòng thật dạ. Bây giờ lại bị nói như thế này.

Ta rũ rũ tay áo, nhìn theo bóng hắn cười nhạt, nói: “Lão thân sao có thể sinh ra được đứa trẻ hoạt bát đáng yêu như thế này, đáng thương thay cho vị liệt nữ sinh ra A Ly lại nhảy xuống Tru Tiên đài. Lão thân học nghệ ở núi Côn Luân, tu đạo tiêu dao, chứ không theo Tây phương cực lạc, chẳng tu thành lòng dạ bồ đề, đương nhiên chẳng đối tốt với A Ly. Vị thứ phi trong cung của Dạ Hoa Quân, theo như lão thân thấy cũng là người từ bi thiện lương, nhất định sẽ coi con ngài như con đẻ. Từ rày về sau hãy gọi thứ phi của ngài đến chăm sóc cho A Ly, chớ để nó phải chịu khổ vì ta nữa”.

Bóng hắn bỗng khựng lại, lúc sau mới nói: “Nàng đừng nói những lời đó chọc giận ta, ta không hề có ý đó”. Đoạn ôm cục bột nhỏ vội vội vàng vàng đến phủ Dược Vương.

Nhìn theo bóng hắn đang dần khuất, ta bỗng cảm thấy thật chán chường. Đang định quay mình bước vào trong sân, thì Nại Nại bước đến trước mặt.

Đôi mắt nàng ta đỏ hoe, nhìn ta, giống như nhìn thấy Quán Thế Âm đại từ đại bi ở Tây phương, vội vã kéo tay áo ta run run nói: “Thượng thần có thấy ai vừa từ trong sân đi ra không?”.

Ta vỗ vỗ trán, dịu giọng hỏi: “Sao thế?”.

Những giọt lệ long lanh lăn từ khóe mắt đỏ hoe của nàng ta chầm chậm lăn xuống, nàng ta nghẹn ngào nói: “Xin thượng thần trách phạt tiểu tì, đều là lỗi của tiểu tì cả. Thượng thần đối với tiểu điện hạ tốt như vậy, nếu là chủ nhân của tiểu tì tái sinh cũng sẽ phải cảm tạ thượng thần, lần này vì tiểu tì, mà tiểu điện hạ rơi vào tay Tố Cẩm nương nương, tiểu tì, tiểu tì…”.

Ta thấy nàng ta lắp bắp hồi lâu mà không nói tiếp được, lời lẽ lung tung, không có trọng điểm, thì gõ quạt nhắc nhở: “Giờ đừng nói những lời thừa thãi nữa, vừa nãy ngươi nói để cục bột nhỏ rơi vào tay Tố Cẩm là có ý gì?”.

Ta vừa nhắc nhở đã khiến nàng ta tìm được cốt lõi sự việc, từng chuyện từng chuyện đều nói hết sức rõ ràng. Hóa ra hôm nay khi ta được các tiên nga ở chỗ Linh Bảo Thiên Tôn dẫn đi, thứ phi Tố Cẩm đã dẫn bốn tiên nga tùy tùng đến “Nhất Lãm Phương Hoa”. Nói là sáng sớm đi tản bộ, được một đạo tiên khí mà thần thánh không thể xâm phạm chỉ dẫn, vô ý đi đến gần khu nhà mà ta ở, định đến chào hỏi chủ nhân của tiên khí này, thì nhìn thấy cục bột.

Tạm thời không nói đến chẳng có vị thần tiên nào trong khắp bốn bể tám cõi có được tiên khí mà thần thánh không thể xâm phạm, ta là người có trái tim rộng lượng, chỉ coi đây là những lời tán tụng vô lý mà thôi. Nhưng đêm qua Tố Cẩm cùng Dạ Hoa và Mậu Thanh không biết đã diễn trò đến mấy giờ, mà sáng sớm tinh mơ còn có tinh thần tản bộ đến tận chỗ của ta, thì khiến ta muôn phần khâm phục.

Nghe nói Dạ Hoa không bao giờ cho phép Tố Cẩm gặp cục bột nhỏ, cũng không cho phép nàng ta lại gần “Nhất Lãm Phương Hoa”, là khuôn mẫu khắp bốn bể tám cõi, nàng ta cũng phải luôn giữ quy củ phép tắc, không hiểu hôm nay bị làm sao, mà dám mạo phạm cả hai điều. Nại Nại không chịu cho Tố Cẩm vào nhà, nàng ta là một tiểu tiên nga coi nhà, nhưng cũng cố gắng làm tròn phận sự. Sau khi Tố Cẩm hậm hực rời khỏi “Nhất Lãm Phương Hoa”, Nại Nại coi sóc cục bột nhỏ, rồi đến hậu viện lấy nước. Lấy nước về thì phát hiện không thấy cục bột đâu nữa. Nại Nại cho rằng Tố Cẩm kia đã ôm cục bột đi mất, liền cuống quýt đuổi theo, thì gặp ta.

Ta vỗ vai nàng ta, an ủi: “Là Dạ Hoa ôm cục bột đi, không liên quan gì tới Tố Cẩm, ngươi chớ nên lo lắng quá”.

Nghe Nại Nại thuật lại, xem ra nàng ta rất đề phòng vị thứ phi của Dạ Hoa. Từ đầu đến cuối của chuyện này khẽ chạy qua chạy lại trong đầu, ta cũng đoán được ra. Đại khái là phu nhân mà Nại Nại theo hầu trước đây – chính là bà mẹ đã gieo mình xuống Tru Tiên đài của cục bột nhỏ, trước khi nhảy xuống Tru Tiên đài, cũng từng có vướng mắc với Tố Cẩm.

Hiện giờ Dạ Hoa đối xử rất tệ với Tố Cẩm.

Trong đầu ta chợt lóe lên, bèn ngắt lời Nại Nại: “Có phải thứ phi Tố Cẩm kia có liên quan đến chuyện mẹ của cục bột nhỏ nhảy xuống Tru Tiên đài không?”.

Mặt nàng ta trắng bệch, ngừng lại một hồi mới đáp: “Thiên Quân đã có chỉ, không được phép nhắc lại chuyện này, những tiên nga biết chuyện đều bị Thiên Quân chuyển đến các núi tiên, không được ở Thiên Cung nữa”.

Câu trả lời của Nại Nại tuy không thể coi là câu trả lời, nhưng sắc mặt trắng bệch kia đã thừa nhận, lòng ta bỗng rúng động, cũng hiểu ra đến năm, sáu phần. Vì tộc cửu vỹ bạch hồ nhà ta không phải là một tộc thú chạy bình thường, cả đời chỉ có thể tìm một bạn đời duy nhất, ta sống đếm mười mấy vạn năm cũng chưa từng thấy chuyện hai hồ ly cái tranh một hồ ly đực. Vì thế, nếu như có hai hồ ly cái cùng tranh một hồ ly đực, sẽ giở những thủ đoạn nào ta cũng không rõ lắm. Nhưng may mà khi còn ở phàm giới, ta cũng đọc không ít những bản dã sử như “Lã hậu truyện”, đủ để ta có thể suy luận rằng trước đây thứ phi Tố Cẩm kia chẳng hề mẫu mực như bây giờ, vì tranh được sủng ái, cũng đã ép mẹ của cục bột nhỏ nhảy xuống Tru Tiên đài. Năm nay cục bột nhỏ ba trăm tuổi, có thể thấy chuyện mẹ cục bột nhỏ nhảy xuống Tru Tiên đài cũng đã gần ba trăm năm, chắc chắn chuyện này đã gây nên sóng to gió lớn. Năm trăm năm trước ta từng bị Kình Thương đả thương, hôn mê suốt hai trăm năm, nhưng khi ta tỉnh dậy sau giấc mộng dài, lại chưa hề nghe thấy gần đây Cửu Trùng Thiên có tin đồn gì thú vị, hóa ra những lời Nại Nại nói không sai, câu chuyện kinh hoàng ấy đã bị Thiên Quân dẹp đi. Thiên Quân bây giờ đúng là một Thiên Quân có tình có nghĩa, hẳn còn niệm tình thứ phi Tố Cẩm kia là tiểu thiếp của ông ta, mới góp tay giúp đỡ, có điều nhờ sự giúp đỡ của ông ta, Tố Cẩm ngày nay mới trở thành mẫu mực của Thiên Cung.

Haizz, đúng là một quá khứ mưa máu gió tanh.

Chuyến này bị Dạ Hoa và Nại Nại quấy rầy, cũng may không làm cụt hứng tìm sách của ta.

Vốn cho rằng khắp Cửu Trùng Thiên đều là những người nghiêm chỉnh đường hoàng, sách vở chẳng qua chỉ là những loại kinh Đạo kinh Phật tu thân dưỡng tính. Vì ta cảm thấy chán ngán nên mới nghĩ rằng cho dù là kinh Đạo kinh Phật cũng phải đọc, nhưng lại không buồn giở qua giở lại, bèn lấy mấy quyển truyện, liếc qua thấy có mấy cuốn ta chưa đọc, cũng khá thú vị. Ta cười với Nại Nại: “Phu nhân trước đây chắc cũng có phẩm vị”. Đang định mang mấy cuốn truyện này đến suối trời để ngâm mình tiếp, thì bên ngoài cửa cạch một tiếng, rồi từ từ mở ra.

Ta ngẩng đầu lên nhìn, con người mẫu mực trong hậu cung của Dạ Hoa, với khuôn mặt mỉm cười đang đứng sau khung cửa.

Ta thầm than trong lòng, con người mẫu mực này cũng giữ mẫu mực lâu quá, thân tâm đều mệt mỏi, hôm nay dám ngang nhiên trái lệnh Dạ Hoa hai lần, chẳng trách trước đây có người phàm trần từng nói “thái quá cũng như bất cập”, phàm chuyện mà làm quá thì sẽ giống như con thiêu thân.

“Mẫu mực” nhìn thấy ta, nhún mình làm bộ chào, nói: “Vừa nãy muội muội có tới, nhưng không gặp được tỷ tỷ, đang định tới suối trời chào tỷ tỷ, chẳng ngờ tỷ tỷ lại quay lại, muội muội bèn vội vàng chạy sang, may mà còn gặp được tỷ tỷ…”.

Lời lẽ của nàng ta vô cùng chân thành, trên gương mặt chẳng hiểu sao chẳng lấm giọt mồ hôi nào, hơi thở cũng không hề gấp gáp, chẳng có vẻ gì là “vội vàng chạy sang”.

Vì sáng sớm nay ta đã bị hai nữ tỳ của con người mẫu mực này đơm đặt, trong lòng hơi khó chịu. Giờ lại nghe nàng ta gọi tỷ tỷ, tỷ tỷ không ngừng, cơn tức khó khăn lắm mới nén xuống được, giờ lại bùng lên. Ta rất ghét nghe người ta gọi mình là tỷ tỷ, vì hồi nhỏ ở cùng với Huyền Nữ, ả luôn gọi ta là tỷ tỷ. Cái gai Huyền Nữ này đã đâm vào trái tim ta bao nhiêu năm, giờ lại nghe “mẫu mực” gọi ta là tỷ tỷ, cái gai ấy lại đâm vào tim càng nhanh, càng mạnh hơn.

Thuở thiếu thời ta ngây thơ kiêu ngạo, vô cùng bướng bỉnh, gần mười vạn năm trôi qua quả không phải uổng công tu dưỡng, tính cách dần dần trầm lắng đi, lạnh nhạt dần, ưa nhàn nhã yên tĩnh, cho dù bây giờ con người mẫu mực này có hơi ngứa mắt ta, nhưng vẫn còn có thể cầm mấy cuốn truyện, nói: “Ngươi đã có lòng tới thăm ta như thế, sao lúc gặp nhau đêm qua không chào, mà phải đến tận bây giờ mới chào?”.

Khuôn mặt tươi cười của nàng ta cứng đờ lại.

Dưới gốc đào lớn bên cạnh có đặt một chiếc bàn đá, xung quanh bày dăm ba chiếc ghế đá, ta nhẩm tính mình chắc sẽ phải dây dưa với nàng ta cả canh giờ, nên bước qua đó ngồi xuống.

Con người mẫu mực đó ngây ra hồi lâu, rồi đứng thẳng người, nặn ra gương mặt tươi cười nói: “Thiên Cung không giống những nơi khác, nếu là một chuyến chào hỏi trịnh trọng, thì phải có những lễ nghi thích hợp mới được coi là chân thành, lịch sự. Chiểu theo lễ tiết của Thiên Cung, tỷ tỷ vừa tới Thiên Cung muội muội phải tới chào hỏi mới phải lẽ. Nhưng chuyện lớn như vậy mà quân thượng lại chẳng hề nói với muội muội, tối qua lần đầu gặp gỡ, muội muội không nhận ra tỷ tỷ, đã thất lễ, để tỷ tỷ phải chê cười. Sáng nay muội muội định đến chào hỏi tỷ tỷ, nhưng lại trễ giờ. Lần này muội muội chậm trễ như vậy, phải xin lỗi tỷ tỷ trước tiên”.

Lời của nàng ta hết sức kín kẽ, quả không hổ là mẫu nghi của Thiên Cung. Nhưng mấy tiếng tỷ tỷ vẫn khiến ta hoa mắt chóng mặt.

Ta vỗ trán, nâng chiếc quạt trong tay lên, gật đầu nói: “Lần đầu ta tới nên không hiểu quy củ của Thiên Cung, không sao, xem ra quy củ này rất thú vị, vậy ngươi hãy làm theo quy củ, mau mau hành lễ đi”.

Nàng ta lại ngẩn ra giây lát, rồi bình tĩnh nói: “Vừa nãy, muội muội đã chào hỏi rồi mà”. Câu này của nàng ta quả thực mới mẻ. Ta ngẫm lại từ đầu đến cuối một lượt, nhưng chỉ nhớ nàng ta có cúi người chào. Chẳng lẽ một cái nhún mình chào đó được coi là thứ phi của thái tử chào hỏi một thượng thần mất mười bốn vạn năm mới tu luyện thành sao? Quy củ của Thiên Cung xem ra cũng chả ra sao!

Ta thầm khó chịu, nhưng ta vẫn là một thần tiên độ lượng, mấy cái lễ suông này không thèm so đo tính toán, chỉ nuốt giận xuống, nghiêm trang nói: “À, đã chào rồi, cách chào này quả thực là bình dị gần gũi…”.

Lời còn chưa dứt, con người mẫu mực luôn đứng thẳng bên cạnh ấy, khi nãy còn chỉ làm động tác nhún mình chào đại khái, nay bỗng quỳ sụp xuống, chắp hai tay, phủ phục dưới đất. Bên ngoài cửa bỗng có vạt áo của ai đó lướt qua.

Ta nhếch mép, hắng giọng nói: “Ngươi lại làm gì vậy?”.

“Mẫu mực” ngẩng đầu lên, khuôn mặt hết sức dịu dàng, nói với vẻ chua chát: “Cái chào ban nãy là muội muội làm theo nghi lễ của thứ phi đối với chính phi, còn cái chào lần này, là để bái tạ ân nhân. Sự quan tâm mấy tháng nay của tỷ tỷ đối với A Ly khiến cho muội muội cảm kích vô cùng. A Ly từ nhỏ đã mồ côi mẹ, chắc là tỷ tỷ cũng từng nghe nói, nó nhận nhầm tỷ tỷ là mẫu phi của nó có lẽ là do tỷ tỷ băng dải lụa ở mắt, giống như mẹ nó lúc sinh thời, còn trông mong tỷ tỷ chăm sóc nó. Tình cảm của quân thượng dành cho mẫu phi của A Ly hết sức sâu nặng, năm đó mẫu phi của A Ly nhảy xuống Tru Tiên đài, quân thượng đã nhảy theo xuống, Thiên Quân đã cứu chàng lên, chàng chỉ còn thoi thóp thở, tu vi toàn thân đã mất sạch, phải nằm ở điện Tử Thần suốt sáu mươi năm. Khi ấy, nếu không phải là mẫu phi của quân thượng ngày ngày ôm A Ly đến trước giường của chàng, gọi phụ quân phụ quân, hết câu này đến câu khác, e rằng chàng đã không tỉnh lại. Tỷ tỷ xem, hoa đào khắp “Nhất Lãm Phương Hoa”, đều là do sau khi tỉnh lại, quân thượng đã trồng vì quá nhớ thương mẫu phi của A Ly. Hai trăm năm nay quân thượng chưa được vui vẻ một giây, tỷ tỷ giống hệt mẫu phi của A Ly, đó là duyên phận. Cái lạy này của muội muội, thực sự mong tỷ tỷ sớm thành hôn với quân thượng, để an ủi trái tim đã chết một nửa của quân thượng”.

Ta chết lặng nhìn “mẫu mực” giây lát, trái tim xao động.

Những lời trần tình của nàng ta kỳ thực vạch rõ sự hoang mang của ta.

Đã nghĩ đến chuyện bản thượng thần chỉ là thế thân của mẹ cục bột trước mặt cha cục bột, thì nên diễn giải dễ hiểu giản dị một chút. Nàng ta vòng vo tam quốc như thế này, may mà bản thượng thần anh minh, khi rong chơi ở trần gian đã từng đọc rất nhiều truyện, mới có thể lĩnh hội được ý tứ sâu xa trong lời nói của nàng ta, nếu đổi lại là Phượng Cửu bướng bỉnh, e là đã phí công sức của nàng ta. Nhưng cái lạy này của nàng ta rất hay, chỉ là uốn gối quỳ một cái, đem những lời vốn đã được chọn lựa, chuẩn bị kỹ càng nói ra một cách vừa thân thiết vừa tự nhiên.

Tuy ta hiểu được hàm ý trong những lời của “mẫu mực”, nhưng vẫn lấy làm tiếc vì không thể làm nàng ta toại nguyện, gây hấn với Dạ Hoa một trận, ép hắn phải trả lời yêu ta hay là yêu mẹ cục bột, cãi cọ ầm ĩ long trời lở đất.

Thực ra “mẫu mực” cũng chẳng dễ dàng gì, hiện giờ Dạ Hoa đối với nàng ta quả thực rất tệ, ngược lại nàng ta lại hết lòng với hắn. Trước màn kịch phong nguyệt chàng vô tình thiếp hữu ý, lòng chàng như sắt đá, mặc gió đông tây nam bắc chẳng ngả nghiêng, thiếp nặng tình khóc thầm bao phen. Nàng ta vừa khổ sở đau buồn vừa châm chọc tình địch của mình, còn phải nghiên cứu tình sử phong lưu của đối tượng, nhân tiện cũng châm chọc chính mình, đáng thương thay là châm chọc tình địch chẳng thành, còn mình thì lại bị châm chọc quá sâu cay, thực khiến người ta phải thở than thương cảm.

Ta đứng dậy, gõ quạt lên vai nàng ta, bình thản nói: “Rốt cuộc trong lòng ngươi muốn thứ gì, chẳng phải là thứ mà ai ai cũng muốn, làm thần tiên thì không cần quá thông minh. Haizz, có một chuyện cũng cần phải nhắc ngươi một câu, ta được khắp thần tiên trong bốn bể tám cõi triều bái, đều thi hành theo lễ của Thanh Khâu. Nếu như đã đường hoàng đến chào ta, thì phải tắm rửa trai giới trước ba ngày, ba ngày sau chín lạy ba quỳ thi lễ. Cái lễ này tuy lớn, nhưng cho dù là phu quân Dạ Hoa của ngươi thi lễ với ta, ta vẫn xứng đáng để nhận. Nhưng ta cũng chẳng thích thú gì đám tiểu thần tiên trịnh trọng thăm hỏi ta, chắp tay lại, thực lòng là được. Còn hôm nay ngươi nói phải đàng hoàng đến thăm hỏi ta, thì hãy theo lễ của Thanh Khâu nhà ta, làm không nổi thì đừng có nhắc đến cái quy củ gì đó của Thiên Cung trước mặt ta. Thêm vào đó, lão nương ta đây cũng chưa hề cho ngươi làm muội muội gì đó, ngươi nhỏ tuổi như vậy mà gọi ta là tỷ tỷ thì cũng thật thất lễ, hãy tuân theo lễ, gọi ta một tiếng thượng thần đi”.

Lời vừa dứt, lòng ta cũng thoải mái hơn. Mắt vô tình liếc thấy hai tay của nàng ta đang nắm chặt thành nắm đấm. Đồ trẻ ranh, mặt thì làm ra kín kẽ chu toàn, rốt cuộc vẫn chỉ là con trẻ.

Ta chậc lưỡi hai tiếng, rồi gọi Nại Nại, bước qua “mẫu mực” đang quỳ dưới đất, lại đến suối trời ở Thượng Thanh Cảnh.

Thật không nhận ra Dạ Hoa lại là một kẻ si tình.

Biết được điều này chẳng hiểu sao ta lại thấy lòng mình hơi buồn bực.

Nhưng lúc đầu hắn đã yêu mẹ của cục bột nhỏ quá sâu đậm, nếu đúng theo suy đoán của ta – “mẫu mực” vì tranh giành tình cảm đã ép mẹ của cục bột nhỏ nhảy xuống Tru Tiên đài…

Với tính cách lạnh lùng của hắn, sao còn chưa chém “mẫu mực”?

Ta vô tình lầm rầm nói ra miệng câu hỏi này.

Nại Nại đi bên cạnh bỗng khẽ giọng nói: “Thượng thần đoán không sai, đã từng chém một lần ạ”. Do dự một lát rồi nàng ta nói tiếp, “Khi ấy quân thượng tỉnh lại, người còn chưa khỏe, tâm tư trống rỗng, không hề muốn sống, cả ngày chỉ nhốt mình trong điện, đến tiểu điện hạ cũng chẳng thèm ngó ngàng. Mẫu phi của quân thượng là Lạc Tư nương nương lo lắng vô cùng, mới bảo nô tỳ đến an ủi quân thượng. Khi ấy, chỉ khi nô tỳ nói chủ nhân của nô tỳ tới, khuôn mặt của quân thượng mới hơi có phản ứng. Khi quân thượng tỉnh lại chưa đến hai tháng, Thiên Quân đã sai một cỗ kiệu đưa Tố Cẩm nương nương đến Tẩy Ngô cung. Ngày hôm đó trời rất đẹp, là ngày Hoàng đạo, vậy mà Tố Cẩm nương nương lại không thể vào được Tẩy Ngô cung, nô tỳ tận mắt chứng kiến quân thượng mặt lạnh như tiền đâm một kiếm vào ngực nương nương. Nô tỳ thấy đó là nhát kiếm chí mạng, tiếc là Thiên Quân lại đến kịp thời, cứu nương nương. Sau này, thượng thần cũng thấy cả rồi, nương nương là do Thiên Quân giữ lại, vào được Tẩy Ngô cung, nhưng quân thượng chỉ coi nương nương là cái lọ đựng mắt cho chủ nhân nhà nô tỳ thôi. Những cung nga hầu hạ nương nương thấy nàng ta đáng thương, nhưng nô tỳ lại cảm thấy nàng ta tự làm tự chịu”.

Ta kinh ngạc: “Đôi mắt?”.

Nại Nại cắn răng nói: “Đôi mắt của nàng ta, chính là ăn cắp trên người của chủ nhân số khổ của nô tỳ”.

Ta im lặng hồi lâu, bình thường gặp phải những chuyện kỳ lạ như thế này chắc chắn sẽ phải hỏi rõ ngọn nguồn, lần này chẳng hiểu sao trong lòng lại không muốn, chỉ buông một tiếng thở dài mà thôi.

Đôi mắt Nại Nại đã đỏ hoe: “Trước đây nô tỳ ngây thơ, chủ nhân của nô tỳ cũng ngây thơ. Sau này nô tỳ mới biết, lúc đầu chủ nhân cũng khó khăn lắm mới có thể sống bình an trong Thiên Cung ba năm. Lạc Tư nương nương nói quân thượng cho rằng che giấu tâm tư của mình thì có thể bảo vệ được chủ nhân. Nhưng ngài đã che giấu tình cảm trước các thần tiên bao gồm cả chủ nhân, cuối cùng cũng chẳng thể giấu giếm được người cần che giấu là Thiên Quân”.

Lời vừa dứt, đột nhiên gương mặt nàng trắng bệch, bỗng sực tỉnh, làn môi run run: “Nô tỳ lỡ lời”.

Nàng ta nói rất nhiều, phần trước còn có đầu đuôi, phần sau ta thực sự không hiểu mô tê gì, cũng không biết nàng ta lỡ lời gì, mà trong lòng bỗng mơ hồ, rối bời. Mang theo tâm trạng rối bời ấy, khi đi qua “Nhất Lãm Phương Hoa”, bỗng có một luồng khí lành bốc lên ập tới trước mặt.

Dẫn đầu hết thảy thần tiên bốn bể tám cõi, tiên khí có thể đạt tới cảnh giới siêu việt như thế, tổng cộng cũng chỉ có khoảng bốn, năm người. Bốn năm người này thì thượng thần Chiết Nhan hứng thú tao nhã, phẩm vị còn tao nhã hơn cả hứng thú lại là người siêu việt hơn cả.

Bây giờ, Chiết Nhan siêu việt đang túm tay áo đứng dựa bên tường của “Nhất Lãm Phương Hoa”, vui vẻ nhìn ta cười.

Ta ngẩn người ra.

Lúc Tố Cẩm quỳ lạy ta, bên ngoài cửa có vạt áo ai đó lướt qua, ta vừa liếc nhìn đã đoán đó là Chiết Nhan. Nhưng cứ tưởng lão đang ở Thanh Khâu cùng tứ ca, ai dè vạt áo hoa hòe hoa sói đó đúng là của lão ta.

Ta vì muốn trút giận nên mới nói những lời không hề khách sáo với Tố Cẩm, giờ nghĩ lại, thực sự hơi mất mặt thượng thần, lần này để Chiết Nhan nghe thấy những lời đó, khiến ta phải đỏ mặt xấu hổ.

Lão ta lại hí ha hí hửng, bước lên trước mặt ta, nói: “Bao nhiêu năm rồi không được thấy ngươi nhỏ nhen như vậy, hôm nay đứng dưới chân tường này lại được nghe thấy. Chân Chân luôn trách ta đưa ngươi đến Côn Luân là sai lầm, chỉ học được mỗi một nghề, mà lại là cái nghề mắng người ghê gớm, hoàn toàn chẳng còn chút gì ngây thơ hoạt bát lúc hắn dẫn ngươi đến. Xem ra bây giờ ngươi đúng là hết thuốc chữa rồi”.

Ta buồn bã ngẩng lên nhìn trời xanh. Giờ đây ta đã mười bốn vạn tuổi, theo như cách tính của người phàm, có thể ví như một bà lão già nua, nếu vẫn còn ngây thơ hoạt bát như thuở nhỏ, mẹ ôi, vậy chẳng phải là dọa người ta sao?

Vì ta luôn quen với sự già đi ấy, thế nên trong lòng mới có thể có những tính toán thấu tình đạt lý đến thế, nhưng Chiết Nhan lại không chịu quen với sự già đi ấy, ta chỉ có thể không thèm so đo với lão, đành phe phẩy quạt, nói với vẻ khiêm nhường: “Thứ phi của Dạ Hoa quả thực rất trái tai gai mắt ta, tuy ta luôn yêu mến những tiểu thần tiên nhanh nhẹn cơ trí, nhưng quá nhanh nhẹn cơ trí, đến mức chạy đến trước mặt ta ra vẻ thông minh, thì ta chẳng thích chút nào. Cho nên mới lấy tấm lòng của trưởng bối quan tâm tiểu bối, dạy nàng ta đôi câu. Thực sự không thể coi là nhỏ nhen được, lão quá khen rồi, quá khen rồi”.

Lão ta lại mỉm cười.

Thực ra trước đây Chiết Nhan không hay cười như vậy, nhưng gần đây ngày xuân đắc ý, ngày tháng vui vẻ, nên cũng tươi cười hớn hở hơn xưa. Ta cười đáp lại: “Hôm qua Dạ Hoa có dẫn ta lên Cửu Trùng Thiên, hôm nay lão đã chạy đến đây, không phải là muốn nghe lén chuyện của ta đấy chứ?”.

Lão hắng giọng một tiếng rồi ngưng cười, ánh mắt chuyển sang nhìn Nại Nại đứng cạnh ta. Nại Nại không hổ đã ở Thiên Cung lâu ngày, chỉ nhìn sắc mặt là hiểu được tâm ý người khác, lập tức cúi người chào: “Tiểu tì xin đến Thượng Thanh Cảnh trước để chuẩn bị hầu thượng thần”.

Ta hài lòng gật gật đầu.

Chiết Nhan chẳng bao giờ nghiêm túc, đợi Nại Nại đi khuất thì ngay lập tức lại tỏ ra trang nghiêm, đường hoàng. Dáng vẻ của lão khiến ta phát run trong lòng.

Ba trăm năm trước, sau khi ta hôn mê tỉnh lại, phát hiện tiên thể của sư phụ không cần dùng máu của ta để bảo quản, dáng vẻ lúc ấy của lão cũng như bây giờ, khuôn mặt trầm ngâm, gõ gõ lên giường băng trong động Viêm Hoa, thong thả an ủi ta: “Có lẽ Mặc Uyên sắp tỉnh lại”, hại ta mừng hụt.

Bây giờ, ta ngẩn ra nhìn đôi mắt vừa dài vừa nhỏ của lão, trong lòng dội lên một suy nghĩ, nhưng sợ rằng cuối cùng suy nghĩ này chỉ là hão huyền, nên đành tự dập tắt hy vọng.

Bỗng nghe tim mình nhói một cái, ta im lặng nắm chặt hai tay giấu vào ống tay áo, lạnh lùng nói: “Lão bỏ dáng vẻ ấy đi, ta chẳng sốt ruột đâu”.

Lão bèn thu lại gương mặt tươi cười mà trang nghiêm ấy, cười buồn, nói: “Nếu như ta nói Mặc Uyên đã tỉnh lại, thì ngươi cũng không sốt ruột chứ?”.

Vừa nãy trái tim hồ ly đập mạnh như đang nướng trong lửa đỏ, giờ đã xông thẳng lên mũi mắt ta. Ta nghe từ họng mình phát ra một câu: “Lão, lão lại lừa ta”. Câu nói này còn kèm theo hai tiếng sụt sịt.

Lão ta cũng ngây người, cau mày, rồi vỗ vỗ vào lưng ta: “Nha đầu, lần này tuyệt đối không lừa ngươi. Mấy hôm trước ta cùng Chân Chân đến Tây Hải một chuyến, gặp con trai cả của Tây Hải Thủy Quân. Lúc đó ta cảm thấy tiên khí trên người y có gì khang khác, bèn dùng truy hồn thuật tìm hiểu xem sao. Sau đó đã phát hiện trên người y có hai hồn phách. Một là của chính y, còn một”, lão ngừng lại, khẽ giọng nói, “chính là của Mặc Uyên – sư phụ ngươi”.

Ta cúi đầu nhìn đôi hài thêu hoa lấp lóa dưới gấu váy mình, đờ đẫn hỏi: “Làm sao người biết được, hồn phách còn lại trên người con trai của Tây Hải Thủy Quân là của sư phụ Mặc Uyên? Trước đây ta có đọc tiểu thuyết, bút kí của phàm trần, trong đó ghi chép nhiều chuyện kỳ quái, nói đàn ông có thể sinh con, có lẽ hồn phách mà lão tìm được kia, là của con trai do Tây Hải đại hoàng tử giấu cha mẹ y mang thai không chừng”.

Vì ta cúi đầu, cảnh trước mắt bỗng nhòe đi, không thể nhìn rõ vẻ mặt của Chiết Nhan, chỉ nghe thấy lão than một câu: “Dùng truy hồn thuật, đương nhiên có thể truy ngược nguồn gốc của hồn phách kia. Hồn phách ngủ say trên người của Tây Hải đại hoàng tử kia, ta đã truy tìm ngọn nguồn, thấy nó sống dựa vào linh lực tự thân của hồn phách đã tan nát, từng mảnh từng mảnh nhỏ gắn kết với nhau, thử hỏi khắp bốn bể tám cõi, còn có ai có thể dựa vào linh lực tự thân của hồn phách, kết nối những mảnh nhỏ lại thành một hồn phách hoàn chỉnh như thế? Chỉ có Mặc Uyên là có bản lĩnh này. Thêm vào đó, y là con đích của Phụ Thần, ta cũng do Phụ Thần nuôi dưỡng, từ nhỏ luôn bên nhau, tiên khí của y, đương nhiên ta quen thuộc hơn ai hết. Trước đây ngươi nói trước khi Mặc Uyên tan thành khói bụi đã dặn dò mười bảy đệ tử các ngươi đợi y, ta chỉ cho rằng đó là ý nghĩ của y gửi lại các ngươi mà thôi, để các ngươi đừng đau buồn vì y, xưa nay tuy rằng y nói là làm, nhưng rốt cuộc cũng không thể cưỡng được mệnh trời. Cho đến khi tìm được hồn phách ngủ say trên người Tây Hải đại hoàng tử của y, khiến ta phải thực sự bội phục, cả đời Mặc Uyên chưa từng làm người khác thất vọng, đây mới là bản lĩnh của một nam nhi kiêu hùng. Có lẽ y đã dùng bảy vạn năm mới có thể tập trung được hồn phách của mình, hồn phách này giờ vẫn còn phân tán một chút, tạm thời chưa thể quay về thân thể của y, đành nhờ tiên lực của người bên cạnh từ từ điều dưỡng, đợi đến khi điều dưỡng thành công mới có thể quay về cơ thể y, lúc đó y mới thực sự tỉnh lại. Chính vì như thế, Mặc Uyên mới phải để hồn phách của mình trú ngụ trên người của Tây Hải đại hoàng tử, để điều dưỡng. Nhưng căn cốt của vị hoàng tử này quá kém, tiên lực toàn thân ngoài khổ tu cho bản thân còn phải điều dưỡng cho Mặc Uyên, dần dần biến thành cơ thể suy nhược. Mặc Uyên đã ký gửi hồn phách của y trên một cơ thể không được tráng kiện, khó mà tránh được phải điều dưỡng mới tới bảy, tám vạn năm. Ta khám phá ra chuyện này, định lập tức báo cho ngươi, nhưng vừa quay về đã thấy ngươi thương tích đầy mình nên đành phải giấu, sợ sẽ làm ảnh hưởng đến tinh thần của ngươi. Hôm qua đợi ngươi ngâm mình ở suối trời một ngày, nghĩ ngươi cũng khỏe lên nhiều, hôm nay ta mới lên đây để báo cho ngươi hay”.

Lão nói một tràng dài rành mạch như vậy, từng tiếng từng lời đều rót vào tai của ta, nhưng trong đầu ta chúng lại kết thành một mớ bòng bong, tâm trí chu du khỏi chín tầng mây, khiến ta vừa vui sướng lại vừa choáng váng.

Chuyện mong mỏi suốt bảy vạn năm trời, hôm nay đã thành chính quả. Ta ngây ra như phỗng hồi lâu, mới hoảng hốt nắm lấy vướng mắc trong lời Chiết Nhan, cuống quít hỏi: “Sư phụ, người, người đã mượn tiên khí của Tây Hải đại hoàng tử để điều dưỡng, món nợ này phải trả sao đây?”.

Chiết Nhan ho một tiếng, thong thả nói: “Mặc Uyên đã chọn Tây Hải đại hoàng tử tất nhiên cũng có lý lẽ riêng, ta còn nhớ khi còn nhỏ Tây Hải đại hoàng tử có nợ Mặc Uyên một ân tình lớn, lần này, coi như để người ta báo ân đi”.

Nói rồi cánh tay đang đặt trên vai ta giơ lên, xoa đầu ta, lão nhíu mày hỏi: “Nha đầu, ngươi khóc cái gì cơ chứ?”.

Ta quẹt ngang quẹt dọc, đúng là đầm đìa nước mắt, đầu gối bỗng mềm nhũn, liền quỳ phịch trên đất, thậm chí còn níu tay áo của lão, ngượng ngùng nói: “Ta, ta chỉ sợ, sợ lần này lại mơ hão mà thôi”.

05Feb/17

TAM SINH TAM THẾ – THẬP LÝ ĐÀO HOA – Hồi 16

Hai ngày chơi trên Thiên Cung

Đến Nam Thiên Môn, không nhìn thấy thiên tướng canh cổng đâu cả, chỉ nhìn thấy mấy con hổ đang ngủ gà gật, lông da vằn vện sáng bóng, vừa nhìn đã biết là linh vật có tu vi phi phàm.

Ta gõ gõ quạt, cười nói: “Nếu là lối vào Thanh Khâu chỗ ta, tốt xấu gì còn có Mê Cốc trấn giữ. Ba mươi sáu đại la thiên giới nhà ngươi sao lại để mấy con hổ giữ cổng thế này?”.

Dạ Hoa cau mày: “Hôm nay Thái Thượng Lão Quân mở đàn giảng đạo, có lẽ họ đến pháp hội chỗ Lão Quân rồi”. Rồi quay sang cười lạnh, nói với ta, “Nghe nói lúc ở phàm giới giúp Nguyên Trinh vượt qua kiếp số, Thiển Thiển nàng thường đàm luận về đạo với Nguyên Trinh, chắc là đạo căn thâm hậu. Đã bao năm nay Lão Quân giảng đạo không có đối thủ, một mình đứng ở ngôi cao vòi vọi khó tránh khỏi cô đơn, lần này nàng lên trời, hay là tranh luận với ngài một phen xem sao”.

Ta nuốt nước bọt, cười khan: “Quá khen, quá khen”.

Bên ngoài Nam Thiên Môn mây trắng mênh mang, một màu tím ngắt, qua Nam Thiên Môn lại là một cảnh tượng hoàn toàn khác. Vàng nén là đất, ngọc thạch là thềm, phỉ thúy là trúc, khí lành muôn cột, Thủy Tinh cung ở Tây Hải tráng lệ lung linh là thế mà còn kém xa. May mà trước khi lên đây, ta đã thắt dải lụa trắng đề phòng, nếu không hai mắt này không khéo cũng hỏng nốt. Thi thoảng có một vài con hạc tiên kêu lên một tiếng, sải cánh bay lên, ta ngạc nhiên than khẽ, nắm chặt hai tay Dạ Hoa thành thật nói: “Nhà ngươi thật nhiều tiền”.

Sắc mặt Dạ Hoa trắng rồi lại xanh một lát, nói: “Trên trời không phải cung thất nào cũng như vậy đâu”.

Chúng ta cứ từ từ thả bước.

Ngắm thật kỹ, sự giàu có phồn hoa trên Cửu Trùng Thiên này hoàn toàn khác với sự quê mùa no ấm ở Thanh Khâu, nhưng cũng có sự thú vị riêng.

Điều hiếm có nữa là thi thoảng có một vài cung nga đều cung kính lễ độ, dáng vẻ xinh đẹp, nhìn thấy dáng vẻ đeo dải lụa trắng kỳ quặc của ta đều không tỏ vẻ kinh ngạc, mà còn cung kính chào hỏi như với Dạ Hoa, khiến ta vui thích vô cùng.

Nghe nói năm Dạ Hoa ba vạn tuổi dựng phủ xây cung, Thiên Quân đã ban cho một tòa phủ đệ là Tẩy Ngô cung. Tên gọi thực là trang nhã.

Hôm nay đứng trước Tẩy Ngô cung, ta lại thấy hơi kinh ngạc.

Thực sự ta chưa bao giờ lên tới Cửu Trùng Thiên, nhưng không hiểu vì sao, lại luôn cảm thấy trước đây Tẩy Ngô cung không ảm đạm tối tăm như thế này, tuy không đến mức tường vàng ngói ngọc, nhưng cũng sáng sủa hơn, giàu sức sống hơn.

Đương lúc ta còn ngơ ngẩn thì bị Dạ Hoa kéo đi vào trong cổng.

Hắn chăm chú nhìn bức tường sau cổng, dò xét trái phải một hồi, rồi chỉ vào một chỗ, nói: “Nhảy đi”.

Ta hoang mang hỏi: “Sao cơ?”.

Hắn cau mày, một tay ôm ta, men theo bức tường vừa chỉ rồi nhảy một cái vào trong sân.

Trong lúc nhảy, trong lòng ta trào dâng một cảm giác thật khó nói lên lời, hóa ra trên Cửu Trùng Thiên này, vào nhà không nên qua cổng chính, mà đều nhảy qua tường sao?

Dạ Hoa phủi tay áo, bắt gặp vẻ mặt của ta, bối rối cười nói: “Nếu đi cổng chính thì sẽ làm kinh động mọi người, ồn ồn ào ào khiến người ta chán ghét, chẳng thà nhảy tường còn tiện hơn”.

Trong đầu ta lóe lên một ý nghĩ, ta lấy chiếc quạt gõ nhẹ lên vai hắn, nói: “Hôm nay chúng ta đi sớm, còn chưa tới giờ tiên quan Ca Quân đem công văn tới, có phải ngươi quên nhắc Ca Quân hôm nay không cần mang công văn tới Thanh Khâu, để hắn đi uổng công một chuyến? Nếu đi từ cổng chính vào sẽ kinh động đến tiên quan Ca Quân, đúng là hơi phiền phức mà. Ha ha, nói ra, hôm qua lúc chúng ta về động cũng hơi muộn, công văn tích trữ mấy ngày, xem ngươi phê thế nào?”.

Hắn cứng họng, mặt hơi đỏ, phẩy tay áo ngượng nghịu ho một tiếng.

Ta luôn lo rằng Dạ Hoa có hơi già trước tuổi, mới có năm vạn tuổi mà nhìn còn uy nghiêm trầm tĩnh hơn cả Đông Hoa, đến hôm nay mới để lộ thần sắc chỉ thiếu niên mới có kia, ta phe phẩy chiếc quạt, đắc ý vô cùng.

Nơi Dạ Hoa ở là Tử Thần điện, bên cạnh là Khánh Vân điện của cục bột.

Chẳng qua ta chỉ ở lại Cửu Trùng Thiên có hai, ba ngày, lúc đến đã âm thầm lại chẳng viện đến danh hiệu thượng thần, đương nhiên không thể bắt Dạ Hoa khua chiêng gõ trống sắp đặt một tẩm điện riêng cho ta. Đang định khiêm tốn đề nghị với hắn, hai ngày này cho ta ở bên Khánh Vân điện của cục bột là được rồi, hắn đã dẫn ta vào trong một tòa nhà riêng.

Ngẩng đầu nhìn lên, bên ngoài cửa sân treo một tấm hoành phi lớn, khắc bốn chữ triện: “Nhất Lãm Phương Hoa”.

Ánh mắt của Dạ Hoa sáng rồi lại tối, nói: “Đây là nhà của nàng”.

Ta phe phẩy quạt, trầm ngâm một lát, cảm thấy trên trời quả nhiên phô trương hơn hạ giới. Khi ta xuống trần giúp Nguyên Trinh lịch kiếp, vì là bề trên, mới được sắp xếp cho một căn nhà nhỏ. Lần này chỉ là lên trời ở hai, ba ngày, lại có thể được phân một tòa nhà lớn, một người là tiên đế một người là vua, đều là vua chúa, sao khí độ khác nhau một trời một vực.

Ta cảm thán một hồi, rồi đẩy cửa bước vào.

Kinh ngạc kêu lên, cánh cửa màu đỏ son vừa mở ra, hoa đào đầy sân, hoa đào đầy sân. Từ bên ngoài nhìn vào, khắp nơi đều là sắc hoa đỏ thắm.

Ta ngẩn ngơ, ấp úng nói: “Hóa ra ngươi đem ta lên đây là để trông vườn Bàn Đào của Thiên Hậu”.

Sắc mặt Dạ Hoa cứng đờ, khóe miệng giật giật, nói: “Vườn Bàn Đào rộng bao nhiêu, nàng tưởng rằng chỉ bằng mảnh sân này sao? Hoa đào ở đây là do ta trồng từ hai trăm năm trước, đến tận bây giờ mới nở hoa lần đầu”.

Tim ta không biết vì duyên cớ gì mà bỗng nhói lên một cái, chầm chậm bước vào trong sân, dùng chiếc quạt níu lấy một cành hoa đào. Cành hoa đào này diễm lệ, trang nhã biết bao.

Đúng lúc chiếc quạt thu lại, lại nghe thấy tiếng gọi sau lưng: “Nương… nương?”.

Ta quay lại, Dạ Hoa đứng trên một bậc thang cạnh mảnh sân, đôi mắt thấp thoáng ánh lên sau làn tóc đen, nhìn không rõ. Cánh cửa sau lưng hắn có một nữ tử ăn vận giống như cung nga đang đứng, tay trái còn bưng một bình hoa tinh xảo, tay phải vịn chặt vào cánh cổng màu đỏ son, nhìn ta chằm chằm, mắt chớp chớp, hai hàng lệ từ từ trào ra.

Tay ta run lên, mấy cành hoa bị chiếc quạt níu xuống bật lên, cũng rung rung, dường như rụng mất mấy cánh hoa, vương lả tả trên mình ta.

Nữ tử đó đã loạng choạng đi tới, ôm chặt lấy hai chân ta, nghẹn ngào nói: “Nương nương, đúng là người rồi, Nại Nại đã đợi người ba trăm năm, cuối cùng người đã trở về…”. Rồi vừa khóc vừa cười nói với Dạ Hoa: “Chiếc đèn Kết Phách đó quả là thánh vật, nương nương chẳng hề khác trước tẹo nào”.

Ta biết nàng ta đã nhận nhầm ta với ai đó, nhưng chân không rút ra được, đành dùng hai tay nâng nàng ta dậy. Nàng ta nước mắt lưng tròng ngẩng đầu nhìn ta, tuy rằng đôi mắt đẫm lệ nhưng sau đó là niềm vui khôn xiết. Ta vỗ vỗ vào dải lụa trắng băng quanh mắt, không nhịn được nói: “Tiên tử nhận nhầm người rồi, lão thân là Bạch Thiển ở Thanh Khâu, không phải là nương nương của tiên tử”.

Tiểu tiên nga tự xưng là Nại Nại ngẩn ra, nhưng vẫn ôm cứng lấy hai chân ta.

Ta đành quay sang nhìn Dạ Hoa đứng bên cạnh.

Hắn bước tới, một tay đỡ Nại Nại dậy, cũng không nhìn nàng ta, chỉ nhìn rừng đào trước mặt, lạnh lùng nói: “Đây là thượng thần Bạch Thiển của vương quốc Thanh Khâu, sẽ ở đây tạm vài ngày, ngươi nhớ hầu hạ nàng. Bây giờ ngươi nên đổi cách gọi, không được gọi là nương nương, mà gọi tôn hiệu của nàng, gọi là thượng thần đi”.

Nại Nại ôm chặt đôi chân ta hoang mang nhìn hắn, rồi lại hoang mang nhìn ta. Ta cười an ủi nàng một cái, nàng cũng không có phản ứng gì, chỉ dùng tay áo chấm chấm nước mắt, gật đầu thưa vâng.

Ta chỉ mang theo có hai bộ xiêm y, nên cũng không cần sắp xếp phức tạp gì, Dạ Hoa sai Nại Nại chuẩn bị đồ để ta đi tắm, dặn dò ta nghỉ ngơi đã, hắn đến Khánh Vân điện đón cục bột qua.

Gần đây Dạ Hoa rất thấu hiểu lòng người, nhận ra ta bị thương đi đường không tiện, lại biết trong lòng ta cũng nhớ cục bột, quả khiến ta cũng hơi hơi cảm động.

Rõ ràng là cục bột cũng rất nhớ ta, còn đang ở trong lòng phụ quân, vừa nhìn thấy ta, nó đã nhào nửa người ra, rối rít gọi “mẫu thân”, khiến ta sung sướng vô cùng.

“Choang”, bình hoa đào trong tay Nại Nại rơi xuống đất. Ta cảm thấy tiểu tiên nga này vẫn còn vương vấn với mẫu thân của cục bột nhỏ. Nếu bây giờ mẫu thân của cục bột nhỏ đã ngọc nát hương tan, không thể hưởng được hạnh phúc sum vầy, đã khiến cho mẹ kế như ta được hưởng lợi, ắt là tiểu tiên nga kia không đành lòng.

Hầy, hay cho một tiểu tiên nga trung nghĩa.

Dạ Hoa nói cục bột nhỏ chỉ bị kinh sợ một chút, nhưng không sao. Ta quan sát trái phải một lượt, thấy nó vẫn béo trắng mũm mĩm, lúc nhoẻn cười vẫn lộ hai lúm đồng tiền sâu hoắm, vẫn dáng vẻ ngây thơ hàng ngày, không cần phải lo ngại gì.

Rõ ràng là cục bột muốn nhào vào lòng ta, nhưng bị phụ quân của nó ôm rất chặt, giãy mãi mà không ra, lấy làm buồn rầu, ấm ức nhệch miệng nhìn ta.

Ta xoa xoa mái đầu nó, dịu dàng bảo: “Mẫu thân không được khỏe, con cứ để phụ quân bồng đi”.

Đôi mắt to của nó chớp chớp, khuôn mặt nhỏ chợt đỏ bừng lên, rồi nhăn nhó một lát, ấp úng nói: “A Ly biết rồi, mẫu thân có em bé đúng không?”.

Ta ngây ra: “Hả?”.

Nó xấu hổ vân vê mép áo nói: “Trong sách có viết như thế này. Có một vị phu nhân mang thai một em bé, người nhà họ không cho phu nhân đi bế đứa trẻ nhà người khác tới chơi đùa, sợ động, động…” nghĩ một lúc lâu, nắm tay nhỏ vung lên, nói rất quả quyết: “Đúng rồi, động thai”.

Ta choáng váng, ngoan nào, chỉ là một đứa trẻ ranh cao không hơn cọng tỏi, sao đã biết đến cái gọi là “thai”!

Dạ Hoa mỉm cười hỏi: “Con đọc được trong sách nào?”.

Cục bột nhỏ ngây thơ đáp: “Là sách Thành Ngọc cho con mượn”.

Ta nhìn thấy trán Dạ Hoa nổi gân xanh.

Chậc, chậc, chậc, vị Thành Ngọc Nguyên Quân từ phàm giới phi thăng thành tiên này quả là kỳ diệu, thật giỏi vuốt râu hùm. Ta bội phục hắn.

Nại Nại bên cạnh nghi hoặc hỏi: “Cho dù là thượng thần mang thai, sao tiểu điện hạ lại đỏ mặt?”.

Cục bột nhỏ duỗi hai cánh tay ra, cố gắng với lấy mặt ta thơm “choét” một cái, nói: “Bản thiên tôn vui mà, mẫu thân có em bé, bản thiên tôn không phải là người nhỏ nhất trên trời nữa”.

Dạ Hoa ngẫm nghĩ giây lát, rồi khẽ nói với ta: “Chi bằng sau khi kết hôn chúng ta lập tức sinh một đứa?”.

Ta ngẩng đầu nhìn xà nhà, khiêm nhường đáp: “Nếu đến lúc đó là do ngươi sinh, thì ta cũng vui vẻ góp phần”.

Hắn há hốc miệng, mãi lâu sau không nói được gì, giống như vừa nuốt phải một con ruồi vậy.

Vì lần này ta lên trời là để ngâm mình trong suối trời ở Linh Bảo Thiên Tôn, sắp xếp đâu vào đó rồi, liền đến Thượng Thanh Cảnh của Linh Bảo Thiên Tôn.

Ta đã phải mượn suối trời của vị Thiên Tôn này, đương nhiên cũng cần viện hết thân thế ra để đủ thấy được độ “chân thành”.

Nhưng hôm nay lại đúng dịp Thái Thượng Lão Quân mở Pháp hội, Linh Bảo Thiên Tôn là sư phụ của Thái Thượng Lão Quân, hẳn phải tham dự, không còn ở trong Ngọc Thần cung, chỉ có bảy tiên bá đứng hầu ở đại điện, cung kính chào: “Sau pháp hội của Lão Quân, Thiên Tôn ắt sẽ tới thăm cô cô”. Ta ung dung lấy viên dạ minh châu ra đưa cho họ, tiếp đó có mười tám tiên nga đứng xếp thành hai hàng, trong tay đều bưng nào là hoa quả, rượu trà…, dẫn chúng ta đến suối trời để trị thương.

Ta cũng hiểu một chút về lễ phép của Thiên tộc, mười tám vị tiên nga dẫn đường chính là lễ dành cho thượng thần. Ta nhịn một lúc, rồi lại hỏi Dạ Hoa: “Nếu là chính phi của ngươi tới đây ngâm mình, thì có bao nhiêu tiên nga dẫn đường?”.

Hắn ôm cục bột nhỏ dừng lại một lát, đáp: “Mười bốn”. Lại hỏi, “Thì sao?”.

Ta nắm cây quạt trong tay, rầu rĩ một hồi, sụt sùi nói: “Chẳng sao cả, chỉ cảm thấy gả cho ngươi, phẩm cấp của ta không tăng mà lại giảm. Như thế này không thể coi là một vụ mua bán hời được”.

Hắn im lặng, cắn răng đáp: “Nếu là đế hậu của Thiên Quân, thì có tới hai mươi bốn tiên nga dẫn đường, còn có bốn người tay chân nhanh nhẹn kỳ lưng cho nàng”.

Ta cười ha ha, tán thưởng từ tận đáy lòng: “Thế thì không tồi”.

Con suối trời này nằm sau một hòn giả sơn, là nơi cực kỳ thanh tịnh, khí bốc lên xung quanh đều có màu xanh, giống như lúc hỗn độn âm dương chưa phân, trời đất hỗn mang.

Cục bột nhỏ reo vui, nhờ tiên nga cởi áo, quần cho nó, rồi cơ thể trắng như bột nhảy xuống nước, nhưng không thấy lặn xuống mà chỉ nổi trên mặt nước, bì bạch đạp nước tung tóe.

Dạ Hoa đứng trên bờ nhìn một lúc, lại kiểm tra những món hoa quả rượu trà trong tay các tiên nga, quay đầu dặn ta: “Những loại rượu này đều là rượu hoa quả, chỉ có thể cho A Ly uống một chút, chớ cho nó uống nhiều. Mấy loại quả đầu mùa này cũng chỉ nên cho nó ăn mỗi thứ nửa quả”.

Ta gật đầu đồng ý, cảm thấy làm cha làm mẹ thật khó, lại nhìn ánh mắt hắn sáng rỡ, cảm thấy thật khâm phục.

Hắn ngẩn người, lại nở một nụ cười sáng như băng tuyết, nhẹ nhàng cầm lấy cây quạt trong tay ta, nói: “Trên chiếc quạt này vẽ hình hoa đào rất phong lưu, nhưng không thấy đề thi từ ứng với cảnh, hơi đáng tiếc, ta cầm đi bổ sung vào cho nàng, tạm thời nàng cứ ngâm mình ở đây, ngâm xong thì đến thư phòng tìm ta nhé”.

Nụ cười này của hắn khiến cho mắt ta hoa lên, không chú ý đã bị hắn cầm cây quạt đi mất.

Cục bột nhỏ đang khỏa nước tung tóe hỏi ta: “Sao phụ quân lại đi thế, sao không tắm cùng chúng ta?”.

Ta cười ha ha: “Trời giao mệnh lớn cho phụ quân con, phụ quân con phải đi làm nhiệm vụ rồi”.

Cục bột nhỏ đã uống quá chén.

Vì lúc chuẩn bị đi Dạ Hoa đã dặn dò kỹ, mấy thứ quả đầu mùa này chỉ cho cục bột nhỏ ăn nửa quả mỗi loại, đương nhiên ta cũng cho rằng rượu hoa quả cũng có thể cho nó uống nửa bình, nhưng không ngờ rằng, mới có hai nửa bình mà nó đã say rồi, ngây ngô cười với ta, đầu ngoẹo sang một bên rồi ngủ thiếp đi.

Nại Nại lo lắng nói: “Tiểu điện hạ lần đầu uống nhiều như thế, say thế này, hay là để nô tỳ đưa ngài đến phủ Dược Quân xin thuốc”.

Ta uống rượu đến hơn chục vạn năm, mà toàn uống thứ rượu cao cấp do Chiết Nhan nấu, cho dù khiêm tốn mà nói trong làng uống rượu thì ta cũng được coi là lão làng một nửa. Cục bột nhỏ lần này uống phải rượu hoa quả, chẳng qua là quả tiên ủ lâu ngày lên men mà thôi, thực sự không chuốc say nổi người, mà là uống hơi nhiều, không hề nguy hại gì đến cơ thể. Cục bột nhỏ say ngủ thiếp đi, chỉ vì chưa bao giờ uống nhiều, tửu lượng của nó lại quá thấp, ta bắt mạch tượng cho nó, khí huyết vẫn bình thường như ta, nếu chỉ vì muốn giải rượu mà tới phủ Dược Quân, thực là chuyện bé xé ra to. Ta lặng im một lát, rồi nói với Nại Nại: “Nam tử hán không nên chiều chuộng như thế, không sao đâu, ngươi đưa nó về cung ngủ là được, không đến ba canh giờ nó sẽ tự tỉnh thôi”.

Hai tiên nga vội vàng xốc cục bột nhỏ dậy, mặc quần áo vào, rồi Nại Nại bế nó về trước.

Lại ăn thêm một chút dưa, uống nốt chỗ rượu cục bột nhỏ đang uống dở, rồi mơ màng ngủ thiếp đi, đến lúc tỉnh lại đã là giờ Tuất, đã làm khó mười tám tiên nga trên bờ còn phải đứng đợi mà không dám oán hận. Ta rất sảng khoái, chải lại mái đầu, mặc áo choàng, nghĩ lại trên đường từ Ngọc Thần cung đến Tẩy Ngô cung vẫn còn những cảnh tượng lóa mắt, bèn lấy dải lụa trắng băng mắt lại.

May mà trong thời gian hai, ba tháng Dạ Hoa ở lại Thanh Khâu, ta cũng nắm được thói quen sinh hoạt của hắn. Ví dụ như ta còn nhớ trước đây giờ này thường bị hắn lôi dậy đi chơi cờ. Vì đã có tiền án ngay trước mắt, nên ta đoán giờ này hắn hãy còn ở thư phòng, lại nghĩ tới chiếc quạt giúp ta đuổi muỗi đêm qua, thế nên không về khu nhà “Nhất Lãm Phương Hoa” nữa mà đi thẳng đến thư phòng của hắn.

Bên ngoài thư phòng không có ai canh cửa, ta gõ gõ cửa, cũng không có ai thưa, khẽ đẩy cửa vào, cửa liền mở ra. Bên ngoài không có ai, nến vẫn cháy, chiếu sáng lung linh.

Bên trong bỗng vẳng đến tiếng nghẹn nghào của một người con gái. Trong lòng nhói mạnh một cái, ta sững sờ một lúc, lắng tai nghe. Gần đây bản thượng thần số rất đào hoa, liên tục gặp phải những chuyện sớm mận tối đào. Lần này cách một lần cửa, chẳng lẽ lại gặp vận son, được xem trò vui chốn khuê các của người khác ư?

Ta trấn tĩnh lại, cảm thấy Dạ Hoa tuy lạnh lùng trầm tĩnh một chút, chẳng qua là tuổi trẻ hăng hái, bầy tiên nga ta gặp hôm nay đều rất xinh đẹp, trong đêm hắn lại bầu bạn với một bàn công văn khô khan, hẳn rất phiền muộn, ta bỗng ngẩng đầu lên, bắt gặp một mỹ nhân như hoa như ngọc, diễm lệ tựa tranh vẽ đứng bên cạnh…

Trong lòng vừa cảm khái vừa kinh ngạc.

Dạ Hoa cắt đứt tơ tưởng với ta vốn là việc tốt, rất đáng để ta vui mừng xiết đỗi. Nhưng ta lại âm thầm thấy tiểu tiên nga xinh đẹp như hoa kia không được xinh đẹp như hoa cho lắm, càng không xứng với Dạ Hoa.

Nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng cảm thấy giật đổ mười tòa miếu cũng chẳng bằng hủy hôn, bèn vân vê cái tai đã nóng rực, định im hơi lặng tiếng, khẽ chân khẽ tay cưỡi đám mây màu chuồn đi.

Chân phải đang nhấc lên được nửa bước qua bậu cửa, thì nghe thấy tiếng Dạ Hoa dịu dàng vang lên: “Thiển Thiển, nàng đến rồi lại đi, rốt cuộc định làm gì?”.

Ta vỗ trán thầm than, đang bên người đẹp mà hắn vẫn còn có thể chú ý đến động tĩnh bên ngoài, đúng là một vị thần bất bình thường.

Ánh nến sau lưng nhảy nhót, ta chẳng tiến mà cũng chẳng lùi, Dạ Hoa thong thả nói: “Chiếc quạt ta đã đề thơ xong, nàng vào cầm lấy đi”.

À, hắn đã gọi ta vào, vậy thì ta đi vào cũng không thể coi là đường đột. Ta vốn cũng hơi tò mò, muốn xem tiểu tiên nga đang nức nở kia rốt cuộc trông như thế nào, được lời như cởi tấm lòng, liền lập tức hí hửng rẽ rèm che bước vào.

Bản thượng thận đúng là dự liệu không sai.

Bên trong quả có tiểu tiên nga.

Nhưng không phải là một tiểu tiên nga, mà là hai tiểu tiên nga.

Chỉ là hai tiểu tiên nga ăn vận rất bình thường, đều đang cúi đầu quỳ mọp dưới đất, người bên trái bờ vai đang rung rung, rõ ràng đang khóc thầm, không phát ra một tiếng nức nở nào.

Dạ Hoa đang ngồi sau thư án, phía trước chất đầy một đống công văn, bên cạnh đó đặt một bát sứ hoa xanh, canh trong bát vẫn còn bốc hơi nghi ngút. Điệu bộ đường hoàng thế kia, đây thực sự đâu phải vừa diễn ra một cảnh xuân tình.

Sóng lòng ta dâng trào cuộn thét, tràn qua núi cao tràn qua khe sâu, hóa thành một dòng chảy nhỏ, ta điềm nhiên thong thả bước tới đón lấy chiếc quạt trong tay Dạ Hoa, vừa nhìn mấy chữ đề trên quạt vừa hững hờ hỏi: “Trích từ bài nào ra?”.

Dạ Hoa viết chữ rất đẹp, trên mặt quạt chín chữ khải nhỏ chia thành hai hàng đều đặn, viết rằng “Nâng chén chúc gió đông, cùng nhau thong dong”. Vừa nãy khi xòe quạt ra, ta còn hơi sợ hãi, sợ rằng hắn sẽ đề mấy bài thơ khiến ta đau lòng như “Trước sau nào thấy bóng người, hoa đào năm ngoái còn cười gió đông” (32). Vì tuy ta tuổi đã cao, nhưng khi còn trẻ lại rất nhạy cảm, đến nay nhìn thấy thơ văn sướt mướt thì sẽ dễ dàng bị xúc động, thương cảm.

Chín chữ Dạ Hoa đề trên quạt khiến ta rất hài lòng.

Hồi lâu mà trong phòng vẫn lặng im, ta hiếu kỳ ngẩng đầu, bắt gặp ánh mắt kinh ngạc, sợ hãi của vị tiên nga bên phải.

Đôi mắt ấy rất đẹp, ta sống đến mười bốn vạn năm rồi mà chưa từng thấy người con gái nào có đôi mắt đẹp như thế. Gương mặt nàng ta chỉ đẹp hơn đám tiên nga mà ta gặp hôm qua một chút, nhưng đã bị ánh sáng lấp lánh của đôi mắt này che mờ, trở nên thật nhạt nhẽo vô vị.

Tạo hóa trêu ngươi, lại sinh ra gương mặt không tương xứng với đôi mắt như thế, thật khiến người ta phải tiếc nuối.

Làn môi tiên nga đó khẽ mấp máy, lâu sau, run run bật ra một cái tên, ta nghe rất rõ, lại là gọi tên người mẹ đã nhảy xuống Tru Tiên đài của cục bột nhỏ.

Ta xoa xoa dải lụa trắng trên mặt, vì đã mấy lần bị nhận nhầm cũng thành quen, nên ta cũng không cố gắng đi phân bua, mà chỉ nhấp một ngụm trà, lại dò xét tiểu tiên nga trước mặt từ đầu đến chân, dịu dàng khen: “Đôi mắt của nàng thật là đẹp”.

Đây vốn chỉ là một câu khen xã giao, huống hồ ta cũng rất chân thành, người bình thường hẳn rất thích, nhưng tiểu tiên nga đang quỳ trước mặt lại không như vậy, không những tỏ vẻ không thích, mà lại còn ngã ra đất, hai mắt nhìn chằm chằm vào ta, vừa kinh hãi vừa hoảng loạn.

Ta thấy rất khó hiểu.

Dung mạo bản thượng thần tuy rằng có không bằng tứ ca nhưng trong đám nữ giới ở Thanh Khâu vẫn luôn đứng hàng đệ nhất mỹ nhân. Không ngờ hôm nay, với dáng vẻ hàng vạn năm không đổi, chẳng những không thể thuyết phục được tiểu tiên nga trước mặt mà lại còn khiến nàng sợ hãi ngã lăn ra đất sao?

Dạ Hoa yên lặng gỡ dải lụa trắng băng mắt của ta, kéo ta đến ngồi cạnh hắn.

Hai tiên nga ở dưới, hai đôi mắt vẫn dán thẳng lên. Bốn ánh mắt bàng hoàng vẫn dán trên khuôn mặt già nua của ta, cực kỳ thiếu giáo dục, cực kỳ vô lễ, khiến ta cảm thấy không thích chút nào.

Dạ Hoa ngẩng lên, nói với hai tiên nga vẫn đang ngây dại nhìn ta: “Công chúa Mậu Thanh, Tẩy Ngô cung của bản quân quả thực không thể dung nàng, sáng sớm ngày mai, mời công chúa hãy về Đông Hải đi. Tố Cẩm, nàng vốn rất trọng tình nghĩa, nếu không nỡ xa công chúa, vậy thì nên xin Thiên Quân hạ chỉ, cùng gả nàng đến Đông Hải, nàng thấy thế nào?”.

Những lời lạnh thấu xương cốt của hắn đã khiến hai tiên nga đang quỳ dưới đất kia sắc mặt trắng bệch.

Ta ngây người, nheo mắt dò xét tiên nga khóc thầm không lên tiếng ở bên trái, mơ hồ nhận ra đường nét thanh tân của Đông Hải Thủy Quân, không phải công chúa Mậu Thanh thì là ai?

Nếu vậy, người quỳ bên phải, có đôi mắt không tương xứng với khuôn mặt kia, chính là người bị đồ đệ bất hiếu Nguyên Trinh của ta chọc ghẹo đến mức đòi treo cổ tự vẫn, kết quả là tự vẫn chẳng thành – thứ phi Tố Cẩm của Dạ Hoa rồi.

Ta vuốt tay áo, than thở một hồi, Nguyên Trinh ơi là Nguyên Trinh, dáng vẻ ngươi đẹp đẽ là vậy, thà trêu mình trong gương còn hơn đi trêu chọc vị thứ phi này. Giờ bị giáng xuống hạ giới sáu mươi năm, nếu không phải gặp sư phụ anh minh là ta, thì sáu mươi năm chỉ như một cái búng tay này, ngươi sẽ phải chịu biết bao đau khổ rồi.

Đôi mắt Tố Cẩm nhìn ta đã trong veo trở lại, còn Mậu Thanh bên cạnh vẫn thổn thức nghẹn ngào.

Ta thấy đêm qua Dạ Hoa hẳn rất giận dữ. Theo hiểu biết của ta, ngoài trận đấu với Huyền Nữ ở cung Đại Tử Minh ra, chưa bao giờ thấy hắn giận dữ như vậy. Trong lòng rất hiếu kỳ, ta cầm cây quạt lên nhưng vẫn chưa đi, chỉ bưng một chén trà nóng rồi tìm một góc ngồi xuống, im lặng chờ trà nguội.

Dạ Hoa rất giỏi giữ bình tĩnh, tiếng thổn thức nghẹn ngào của công chúa Mậu Thanh ấy khiến người nghe rất đau lòng, nhưng hắn vẫn dửng dưng, chỉ miệt mài đọc công văn.

Vì khi ta làm khách ở Đông Hải, đã được chứng kiến mối thâm tình của công chúa với Dạ Hoa, cảm động đến rơi lệ, bây giờ, thứ phi Tố Cẩm cũng đã lau nước mắt ba, bốn lần, nên ta cũng có thể giữ được bình tĩnh.

Nghe một lúc lâu, cuối cùng ta cũng đã hiểu ra, sở dĩ Dạ Hoa giận dữ như vậy là vì đêm nay công chúa Mậu Thanh dám ăn gan hùm mật gấu, định dùng một bát canh tình dược để lôi kéo hắn. Chẳng hiểu sao bát canh tình dược này lại có mùi vị không ngon, khiến Dạ Hoa vừa bê lên đã nhận ra, lửa tình chẳng nhen lửa giận đã bốc.

Tiểu tiên nga hầu bút mực của Dạ Hoa nhìn thấy chuyện lớn như vậy, theo quy củ của Thiên Cung liền vội vàng chạy đến chỗ thứ phi nương nương duy nhất trong cung của Dạ Hoa. Nói đến đây, lại không kìm được phải giơ ngón cái lên khen một tiếng, vị thứ phi Tố Cẩm này của Dạ Hoa đúng là hình mẫu của ngàn vạn hậu cung trong khắp bốn bể tám cõi, nhìn thấy Mậu Thanh hạ tình dược mê hoặc phu quân của mình, nhưng chẳng hề căm ghét, giận dữ mà lại còn cầu xin giúp cho nàng ta.

Khi ta bước vào phòng lấy chiếc quạt thì đã qua mất đoạn cao trào, chỉ còn lại màn sau mà thôi.

Ta đã rành rẽ sự việc, lại nghe hai người quỳ dưới đất kia khóc lóc một trận càng cảm thấy vô vị. Những đoạn chuyển cảnh trong những vở kịch ở phàm giới xem ra diễn còn đặc sắc, thú vị hơn thế này nhiều.

Vừa hay nước trà cũng nguội bớt, nhấp hai, ba ngụm xong, ta khép lại quạt, định ra về.

Đúng vào lúc muốn về mà chưa về kịp này, công chúa Mậu Thanh lại ôm lấy chân ta, thảm thiết xin: “Nương nương, lần trước Mậu Thanh đã nhận nhầm người, nhưng người đã giúp Mậu Thanh một lần, Mậu Thanh luôn ghi nhớ trong lòng, lần này Mậu Thanh cầu xin người, xin người hãy giúp Mậu Thanh lần nữa”.

Ta im lặng một lát, quay người lại, chẳng còn cách nào khác nói với Dạ Hoa: “Công chúa Mậu Thanh đã quỳ trước ta, nếu bảo ta quỳ lại thì thực không còn thể diện, thế nên không thể không nói hai, ba câu giúp nàng”.

Hắn ngẩng đầu lên nhìn ta: “Nàng nói đi”.

Ta thở dài một cái rồi nói: “Thực ra chuyện này không phải lỗi do một mình công chúa Mậu Thanh, ban đầu ngươi cũng biết công chúa Mậu Thanh có tình ý với ngươi, nhưng ngươi vẫn đem nàng ấy lên Thiên Cung, tuy là để đáp ân tình của nàng ấy, giúp nàng ấy trốn tránh hôn sự với nhị hoàng tử của Tây Hải, đợi nàng ấy nghĩ thông rồi về Đông Hải. Nhưng nàng ấy lại không biết ngươi nghĩ như vậy, khó tránh được cho rằng rốt cuộc ngươi đã động lòng trước mình. Ngươi đã gieo cho nàng ấy suy nghĩ này, lại một mực làm chính nhân quân tử, không chịu động thủ, khác nào ép nàng ấy phải tự mình hạ thủ”.

Ánh mắt của Dạ Hoa rất phức tạp, nhưng chỉ lạnh lùng nhìn Mậu Thanh nói: “Nhưng ngươi đã nói là chỉ đến Tẩy Ngô cung của ta làm nữ tỳ là cũng mãn nguyện rồi”.

Ta ngáp một cái, nói: “Những lời của con gái nói khi đang yêu mà ngươi cũng tin được”.

Mậu Thanh khóc khóc mếu mếu mãi, ta gõ gõ vào cạnh chiếc quạt, nói với nàng ta: “Hãy nghe một câu của lão thân, ngươi hãy về Đông Hải thì hơn”. Nói rồi lùi hai bước nhích sang, khẽ phủi tay áo, nhân lúc Mậu Thanh còn chưa còn hoàn hồn, ta đã cầm quạt đi rồi.

Có điều gần bước tới bậu cửa ở gian ngoài ta đã bị Dạ Hoa giữ lại. Ta quay đầu nhìn hắn, hắn thả tay ra, đặt lên vai ta nói: “Trời đã tối rồi, nàng có tìm được cung nàng ở không?”.

Ta ngó xung quanh, nói không chắc chắn lắm: “Chắc là tìm được thôi”.

Hắn lặng im, rồi đáp: “Để ta tiễn nàng”.

Sau tấm rèm mỏng phản chiếu ánh nến lung linh, lại nghe tiếng thút thít của Mậu Thanh. Ta đắn đo một lúc, cảm thấy hai nàng đang quỳ trong kia chắc cũng mệt rồi, bây giờ Dạ Hoa tiễn ta đi, họ có thể nghỉ ngơi, lấy lại tinh thần, tranh thủ lát sau diễn trò càng hay hơn nữa. Như thế, trong lúc Dạ Hoa làm người dẫn đường cho ta, thì ta cũng không làm lỡ chuyện trọng đại trong hậu cung của hắn. Cho nên ta bèn để hắn dẫn đi, an tâm hưởng thụ sự ân cần này.

Ánh trăng như sương, gió mát thổi hiu hiu.

Suốt dọc đường Dạ Hoa không nói gì, thi thoảng chỉ hỏi đôi câu: “Có cành cây chẽ ra, đừng qua đó” hoặc “Bên đó có hai tảng đá, nàng đi cạnh ta đây”. Con đường mà hắn dẫn đi mấp ma mấp mô, vì mắt ta không tốt, nên dọc đường đều chú ý dưới chân, cũng chẳng có thời gian đâu mà nói chuyện với hắn.

Ta cũng hơi buồn ngủ, đi hết quãng đường này lại càng mệt, đến cổng khu nhà “Nhất Lãm Phương Hoa” ta chỉ muốn chạy thẳng vào ngủ một giấc cho xong.

Lại chuẩn bị bước qua bậu cửa.

Lại bị Dạ Hoa giữ lại.

Ta cực kỳ đau buồn ngẩng lên nhìn hắn nói: “Không cần tiễn nữa đâu, đoạn sau ta nhớ đường rồi”.

Hắn lặng người, không cười, nói: “Khu nhà này lớn hơn một chút, nàng nhớ đường không tốt, đương nhiên ta biết nàng cũng không đến mức đường về phòng cũng không biết”. Ngừng lại một lát, đôi mắt thâm trầm lại nhìn ta chăm chú, “Chẳng qua ta muốn hỏi nàng, sao cuối cùng nàng lại khuyên công chúa Mậu Thanh quay về Đông Hải?”.

Ta nhịn ngáp, ngạc nhiên hỏi lại: “Thế chẳng phải ngươi bảo nàng ta về Đông Hải sao?”.

Ánh mắt hắn tối sầm lại, nói: “Chỉ vì ta muốn nàng ta về Đông Hải, nên nàng cũng bảo nàng ta về Đông Hải sao?”.

Giọng của Dạ Hoa có vẻ không vui, ta nên thành thật gật đầu, hay là làm trái với lòng mình – lắc đầu, hay là bình thản không nói không rằng?

Bản thượng thần sống đến ngần này tuổi, đám thần tiên bạn bè ai ai cũng đều vui vẻ, hòa thuận. Xưa nay ta đều không chấp nhặt với đám thiếu niên già trước tuổi, huống hồ Dạ Hoa lại là một anh tài trong đám đó, gần đây hành sự lại điên đảo như bị rơi vào ma chướng, ta càng không thèm chấp hắn… Không biết nên trả lời ra sao, mới khiến hắn vừa lòng.

Ta còn chưa nghĩ được câu trả lời hắn thì đã vỗ trán cười khổ, nói: “Quả nhiên như thế”.

Nếu là một thần tiên, tu đến cảnh giới như ta, tự nhiên lại hiểu một số nhân tình thế thái, không nói đến mười phần, thì chí ít cũng tám phần hiểu được thái độ của người khác. Ta vừa liếc thấy nụ cười khổ trên mặt Dạ Hoa mang chút oán giận, lập tức hiểu rằng sự im lặng vừa nãy không hợp lý lắm, thế nên lập tức nhoẻn cười, nói với hắn: “Ta tuyệt đối không quên lần trước đã hứa sẽ cưới cho ngươi mấy thứ phi xinh đẹp, nhưng đã giúp ngươi nạp phi, thì cũng phải theo ý của ngươi, nếu ghép một đôi oán ngẫu (33) thì ấy là tội của ta”. Rồi ta lại gõ gõ chiếc quạt lên cổ tay, nhíu mày nói: “Lại nữa, nếu lòng dạ công chúa này không vừa, hôm nay có thể hạ tình dược, ngày mai không chừng còn làm ra chuyện kinh thiên động địa gì hơn, ở hậu cung phải nên thanh tịnh một chút mới tốt”.

Hắn im lặng hồi lâu, khó mà đoán được hắn đang nghĩ gì, lát sau mới lạnh lùng nói: “Ta cứ tưởng không cần hỏi nàng câu này, vừa nãy kéo nàng vào trong phòng, định xem nàng có ghen hay không, nào ngờ trước sau nàng chỉ xem trò vui”.

Tim ta đập thịch thịch, ôi, ta còn tưởng hắn chỉ gọi ta tới lấy quạt, chẳng ngờ lại còn có cả dụng ý này.

Hắn ngẩng đầu lên nhìn ta, không biết là buồn hay vui, chỉ tiếp tục thờ ơ nói: “Trong tim nàng ta chẳng đáng giá mảy may nào. Bạch Thiển, có phải trong tim nàng chỉ có thể chứa một người? Nàng định đợi người ấy đến bao giờ?”.

Tim ta nhói lên một cái, nhưng không biết vì sao.

Lúc bỏ đi, sắc mặt Dạ Hoa rất khó coi. Đợi hắn quay về rồi, không kinh động đến Nại Nại, ta cũng về phòng nằm nghỉ.

Rõ ràng buồn ngủ díp cả mắt, mà giờ nằm trong chăn ấm đệm êm, ta lại trằn trọc không ngủ được, nghĩ mãi về cái nhói tim vừa nãy. Sắc mặt khó coi ấy của Dạ Hoa cứ bủa vây tâm trí ta, cho đến khi ta mơ màng thiếp đi mất.

Chú thích:

32. Thơ Thôi Hộ, Đề Đô thành nam trang.

33. Oán ngẫu: Một cặp căm ghét nhau (ND).

05Feb/17

TAM SINH TAM THẾ – THẬP LÝ ĐÀO HOA – Hồi 15

Năm tháng thua xa cuộc bể dâu

Bãi bể biến thành nương dâu trong giấc mộng, hoảng hốt mở mắt nhìn, bên ngoài, mặt trời đã ngả về tây, cũng chưa đến quá ba, bốn canh giờ.

Mơ giấc này giống như đã sống bảy, tám vạn năm, tự nhiên khiến người ta già đi một chút.

Dạ Hoa quả nhiên không còn ở trong thư phòng, ta rầu rĩ nhìn màn trên đầu một lát, cố gắng tránh động đến vết thương ở ngực, cẩn thận xuống giường. Tư thế vừa lật vừa ngã này tuy rằng không được phong độ nhưng lúc bốn chân chạm đất lại không động đến chỗ bị thương, đủ thực dụng, đủ vững vàng.

Trong động Viêm Hoa mây mù quấn quýt, bóng hình của Mặc Uyên thấp thoáng ẩn hiện giữa làn sương dày đặc, ta niệm chú hóa thành hình người, đi từng bước từng bước về hướng người.

Quả nhiên là ta đã quá lo lắng, Mê Cốc đã đặt Mặc Uyên nằm rất ngay ngắn, ngay mái tóc bị xổ tung cũng được chải lại gọn gàng, cho dù ta nhìn kỹ đến mấy cũng không tìm ra điểm sai sót gì.

Chỉ là lạnh lẽo một chút.

Ta ngẩn ngơ ngồi bên cạnh người một lúc. Đôi mắt suốt bảy vạn năm chưa từng mở ra ấy, sống mũi thẳng tắp ấy, khóe môi hay nhếch lên ấy, nực cười thay ta tuổi nhỏ vô tri lần đầu gặp mặt đã cho rằng khuôn mặt vô cùng anh tuấn ấy là vẻ mặt một tên bạch diện thư sinh.

Nhưng cho dù là dung nhan nghiêng thành nghiêng nước thì chỉ trong chớp mắt đã biến thành trầm tình mãi mãi. Bảy vạn năm chưa từng thấy người mỉm cười, mỗi khi nhìn lại, chỉ nhớ sau núi Côn Luân, người đứng trong rừng đào, hoa đào tươi thắm nở rợp trời xuân.

Trong động vô cùng yên tĩnh, ngồi lâu cũng cảm thấy hơi lạnh, ta bèn ôm hai tay người ủ trong lòng mình, húng hắng ho, rồi lại ra ngoài động hái vài bông hoa dại, biến ra một chiếc bình, đổ đầy nước suối rồi cắm hoa, đặt bên cạnh người. Như thế, trong động đã có một chút sinh khí.

Lại ngồi đờ đẫn một lúc nữa, đột nhiên nhớ ra qua mấy ngày nữa là mùa hoa dành dành, có thể dùng những cành liễu tích trữ từ năm ngoái xâu hoa lại, làm thành một bức rèm hoa treo ở cửa động Viêm Hoa, khi ấy cả động sẽ thơm mát, Mặc Uyên nằm đó cũng dễ chịu hơn một chút, thế nên ta dần dần vui vẻ trở lại.

Thấy sắc trời dần tối, ta quỳ xuống lạy hai lạy rồi lại kiểm tra động Viêm Hoa kỹ càng một lượt, sau đó vội vàng xuống núi.

Vầng trăng tròn đang treo lơ lửng giữa bầu trời, những thân cổ thụ lưng chừng núi ẩn ẩn hiện hiện dưới ánh trăng. Ta cắm cúi đi được nửa đường, đột nhiên nhớ ra xuống núi cũng chẳng có việc gì gấp gáp, vậy là lại thong thả bước.

Trước đây vì ta hôn mê suốt, không rõ là ai đã băng bó vết thương cho ta, nghĩ lại thì chỉ có ba người: Dạ Hoa, Mê Cốc và Tất Phương. Cho dù là người nào trong số họ thì cũng vẫn coi ta là con gái, cho dù ta đã hóa thành hồ ly thì cũng chỉ lau qua tấm thân đầy máu của ta, chứ không cho vào bồn tắm. Ban nãy lại leo núi, rồi bận rộn ở động Viêm Hoa, bây giờ thư thả một chút, gió núi phe phẩy, ta cảm thấy trên mình hơi nhớp nháp.

Lưng chừng núi Phong Di có một cái hồ, tuy không được bằng suối trời trên Linh Bảo Thiên Tôn, nhưng cũng thừa sức cho việc tắm rửa bình thường. Vừa nghĩ vậy ta bèn nhẩm lại con đường tắt đi đến cái hồ đó, lòng đã quyết liền đổi hướng đi thẳng tới hồ.

Cởi áo bào, dùng tiên khí hộ thân, ta lao thẳng xuống nước. Nước trong hồ này tuy là do băng tuyết tích lũy nhiều năm hóa thành, nhưng giờ là chớm hạ nên nước vẫn lạnh kinh hồn. Ta lạnh đến mức răng đập vào nhau lập cập, liền dừng lại, vẩy vẩy nước thấm ướt cơ thể, đợi đến khi quen lạnh rồi mới từ từ lặn xuống.

Nước mới dâng đến ngực, chiếc váy sũng nước vẫn còn dính bết trên người, thật không thoải mái chút nào, trên mặt hồ xanh ngắt lại loang ánh đỏ, phản chiếu bóng trắng của xiêm y, đỏ đỏ xanh xanh, nhìn thật thích mắt.

Ta còn đang nghĩ chẳng có ai đi dạo quanh hồ giờ này, đang do dự xem có nên cởi váy áo ra không.

Trong lúc còn đang cân nhắc, ta bỗng nghe thấy một tiếng thét giận dữ: “Bạch Thiển”.

Gọi cả họ lẫn tên như vậy khiến ta ho sặc sụa.

Giọng nói này rất quen, nhưng bị hắn gọi cả họ lẫn tên như vậy thì đây là lần đầu.

Ta vừa ho vừa kinh sợ, vốn ta đã phải khéo léo lắm mới đứng được trong hồ, hễ không cẩn thận là sẽ mất tập trung, không khống chế được lực đạo, thân hình nghiêng ngả, suýt chút nữa là đâm thẳng xuống nước, lại chịu thêm tai họa nước chưa ngập đầu (31) một lần nữa.

Cuối cùng ta vẫn không phải chịu tai họa nước chưa ngập đầu, sau tiếng thét giận dữ đó, hắn vội vàng băng qua nửa mặt hồ, đến giữa hồ rồi ôm chặt lấy ta. Tuy vậy tiếng thét giận dữ ấy cũng là của hắn.

Dáng người hắn vốn cao lớn, đôi tay giang ra đã dễ dàng ép chặt ta vào lòng. Lồng ngực ta vốn bị trọng thương, chạm phải lồng ngực rắn như thép của hắn, vết thương lại đau nhói, suýt chút nữa thì thổ huyết. Vì hắn không dùng tiên khí hộ thể, nên lớp quần áo ngoài ướt đẫm, mái tóc đẫm nước đang dính bết trên tai ta.

Ta áp quá sát hắn, cả người bị hắn ôm trọn, không nhìn thấy thần sắc trên gương mặt hắn chỉ cảm thấy trái tim đang đập như trống trận trong lồng ngực, khiến ta nghe thấy rất rõ ràng.

Ta cảm thấy bội phục sự anh minh của bản thân vì đã chưa kịp trút bỏ xiêm y, toàn thân thả lỏng, môi đã bị phủ kín.

Ta giật mình, không cẩn thận răng đã bị tách ra, để đầu lưỡi của hắn tiến vào.

Ta mở to mắt nhìn hắn, nhưng vì quá gần, chỉ nhìn thấy sắc đen ngập tràn trong đôi mắt hắn. Tuy là mắt đối mắt nhưng hắn vẫn không quên công phu “miệng”, lúc cắn lúc mút, vô cùng mạnh mẽ cuồng nhiệt. Đôi môi, đầu lưỡi ta đều bị tê mỏi ghê gớm, mơ mơ hồ hồ thoáng cảm thấy vị máu tanh vương trong miệng.

Cổ họng nghèn nghẹn, mắt cũng đẫm lệ, bỗng hoảng hốt cảm thấy mùi vị này dường như đã từng được nếm trải, khiến lòng cũng hoảng hốt từng hồi.

Hắn khẽ cắn môi dưới của ta, mơ hồ gọi: “Thiển Thiển, nhắm mắt lại đi”.

Âm thanh mơ hồ này trong nháy mắt đã chụp lên đầu ta, khiến ta tỉnh lại ngay tức khắc. Ta đẩy hắn ra một cái.

Mặt nước không giống với mặt đất, loài thú chạy như ta đương nhiên sẽ không quen, lại thêm bảy phần vết thương trên người, ba phần lòng đang rối bời bời, tách khỏi Dạ Hoa ta không khỏi hơi loạng choạng.

Hắn lại bước tới ôm chặt lấy ta, lần này hắn đã biết tránh vết thương trên ngực ta. Ta chưa kịp nói một, hai câu giữ thể diện thì hắn đã vùi đầu vào hõm vai ta, thì thầm nghẹn ngào: “Ta cứ tưởng nàng nhảy xuống hồ”.

Ta ngẩn ra, không biết mình nên nói câu gì, lại cảm thấy suy đoán của hắn thật buồn cười, thế nên cười hai tiếng, rồi nói: “Chẳng qua ta chỉ tắm thôi”.

Hắn lại ôm ta càng chặt hơn, bờ môi dán càng chặt vào cổ ta, hơi thở nặng nề, chậm rãi nói: “Ta sẽ không thể để nàng lại…”.

Một câu nói chẳng đầu chẳng cuối.

Lòng ta thấy hơi là lạ, cảm thấy cứ tiếp tục lặng im thế này e rằng sẽ không hay cho lắm, bèn gọi Dạ Hoa, hắn cũng không đáp, tuy rằng hơi bối rối, cũng chỉ có thể tiếp tục, cố gắng chuyển sang một chủ đề khác an toàn hơn, nói: “Không phải ngươi đang ở thư phòng đọc công văn sao, sao lại chạy ra đây?”.

Hơi thở trên cổ ta cuối cùng cũng chậm lại, hắn im lặng một lúc, rầu rĩ nói: “Mê Cốc đến đưa cơm cho nàng, phát hiện nàng không có ở đó liền bẩm báo với ta, ta liền chạy đi tìm nàng”.

Ta vỗ vỗ vào lưng hắn: “A, đến giờ cơm rồi, chúng ta về đi”.

Hắn không nói gì, chỉ nhẹ nhàng ôm ta trong làn nước, cũng không biết đang nghĩ gì nữa.

Theo kinh nghiệm, những người đã rơi vào cạm bẫy ái tình xưa nay vẫn luôn thần thần bí bí, ta cũng không nên kinh động đến hắn, chỉ để mặc hắn ôm mình.

Sau thời gian nửa tuần trà, ta lại hắt hơi một cái. Cái hắt hơi lớn này nhắc nhở Dạ Hoa rằng ta vẫn còn bị thương, không nên ngâm trong nước lạnh quá lâu, hắn vội vội vàng vàng nửa ôm nửa bế ta đưa lên bờ, rồi lại dụng thuật pháp hong khô chỗ xiêm y bị ướt, nhặt áo choàng khoác cho ta, rồi cùng xuống núi.

Cái hôn đó của Dạ Hoa trong hồ nước đã khiến ta hơi mê muội. Giống như nhớ ra trong sâu thẳm của cơ thể có một thứ gì đó đột nhiên dâng trào, thứ đó mạnh mẽ cuộn sóng, nhưng vô hình vô ảnh, không thể nắm giữ được, chỉ trong khoảnh khắc đã qua đi, cũng không thể tiếp tục suy tư, chỉ có thể thầm thở dài trong lòng một tiếng mà thôi.

Dạ Hoa đi trước, ta đi sau, suốt dọc đường chỉ nghe thấy tiếng gió núi thổi vi vu, thi thoảng vẳng mấy tiếng côn trùng kêu “tắc tắc”.

Vì ta ngẩn ngơ không để ý, nên không cảm nhận được Dạ Hoa dừng bước, bất thần đâm sầm vào hắn. Hắn chỉ dịch sang bên trái một bước, để cho đầu ta sượt qua hắn.

Ta nhăn mũi, thuận theo ý của hắn, nhìn về phía trước.

Trong đình cỏ dưới chân núi Phong Di, ta đưa mắt nhìn gặp ngay nụ cười lười nhác của Chiết Nhan.

Một tay lão cầm quạt Phá Chiết, trời tháng sáu nhưng lão không xòe quạt, chỉ gập chặt lại, đặt hờ trên vai tứ ca. Tứ ca khoanh chân ngồi bên cạnh, mắt nhắm hờ, miệng ngậm một cọng cỏ đuôi chó, nhìn thấy ta, bèn hơi hé mắt, nói: “Tiểu Ngũ, muội uống rượu rồi à? Mà sao mặt đỏ bừng bừng như thế?”.

Ta im lặng, đợi tìm được lý do để biện bạch thì thấy Dạ Hoa ho một tiếng. Đôi mắt Chiết Nhan đảo một lượt trên người hai chúng ta, khẽ phe phẩy quạt, rồi nói: “Đêm nay trăng lạnh như nước, bờ liễu đình hoa, thật thích hợp để hẹn hò”. Ta cười khan “ha ha” hai tiếng, không thể không lườm cho Dạ Hoa một cái, hắn khẽ nhếch khóe môi, sau làn tóc đen nháy, đôi mắt hắn đang tỏa sáng lấp lánh.

Chiết Nhan chọn đúng giờ này để cùng tứ ca đến Thanh Khâu, đương nhiên không phải chỉ để ngồi nói chuyện thời tiết với ta, nghe nói là chiều nay Tất Phương đã gửi thư, trong thư có kể lại ta bị người ta đánh đến nỗi dở sống dở chết, họ cho rằng đây đúng là chuyện ngàn năm khó gặp, muốn xem xem bộ dạng dở sống dở chết của ta như thế nào, bèn chạy vội tới đây.

Ta cắn răng nói: “Lần trước lúc ta dở sống dở chết, đương nhiên có chút thất lễ, chẳng đợi được mấy vị tới xem, mà đã khỏi rồi, đúng là có lỗi. Lần này tuy thương thế nặng hơn, nhưng cũng không đến nỗi dở sống dở chết, lại khiến các vị phải thất vọng rồi”.

Chiết Nhan không buồn để tâm cười hì hì, đưa chiếc quạt trong tay cho ta, cười ha ha: “Đã khiến ngươi phải tức giận rồi, không làm vậy thì sao dẹp được cơn tức giận này, thôi bỏ đi, chiếc quạt này phải nhờ đại hoàng tử của Tây Hải vẽ cho, thế là ngươi được lợi rồi nhé”.

Ta cười hì hì đón lấy, nhưng miệng vẫn “hừ” một tiếng.

Khi quay về động Hồ Ly, Chiết Nhan và tứ ca đi trước, ta và Dạ Hoa nối gót theo sau. D

ạ Hoa nén giọng thật thấp, nói: “Không ngờ nàng cũng có thể vì bị trêu mấy câu mà tức giận, thượng thần Chiết Nhan quả là có bản lĩnh”.

Ta che miệng ngáp một cái: “Cái này chẳng quan hệ với có bản lĩnh hay không bản lĩnh, lão lớn hơn ta rất nhiều tuổi, tức giận với lão cũng chẳng sao. Nếu đám thần tiên tiểu bối dám đắc tội với ta một hai câu, người lớn tuổi như ta, sao có thể đi tính toán với họ được”.

Dạ Hoa lặng im một lát rồi tiếp: “Ta hy vọng chuyện gì nàng cũng có thể tính toán với ta một chút”.

Ta đang định ngáp cái thứ hai, liền bị chặn đứng luôn.

Mê Cốc đang đứng chờ trước động Hồ Ly. Giờ Tuất đã qua, vốn dĩ là giờ nhà nhà tắt đèn đi ngủ, lại phiền đến lão phải đứng chờ, ta thấy hơi ngại ngùng.

Vẫn còn chưa tới gần, lão đã chạy lên ba bước đón chúng ta, đến trước mặt ta, sắc mặt lão xám lại nói: “Quỷ Quân Ly Kính của Quỷ tộc đưa danh thiếp, muốn gặp cô cô, đã đợi nửa ngày trước cửa rồi”.

Dạ Hoa dợm bước lại, cau mày nói: “Hắn muốn làm gì?”.

Chiết Nhan lôi tứ ca – đang định tiến vào động lại, cười ha ha: “Đến sớm chẳng bằng đến đúng lúc, hôm nay quả là may, chuẩn bị được xem trò hay rồi”.

Chân ta không ngừng tiến về phía động, lạnh lùng dặn dò Mê Cốc: “Đuổi hắn ra ngoài cho lão nương”.

Mê Cốc run run, nói: “Cô cô, hắn chỉ đợi ở ngoài cửa cốc, còn chưa vào trong”.

Ta thản nhiên gật đầu: “À, vậy thì mặc hắn đi”.

Chiết Nhan đang hừng hực nhiệt huyết xem trò vui thì bị ta giội cho một gáo nước lạnh, vẫn cố gắng chêm chọc: “Ân oán tình thù gì cũng cần kết thúc, hành xử như ngươi chỉ chuốc thêm phiền não, chọn ngày chẳng bằng gặp ngày, chi bằng đêm nay chúng ta hãy kết thúc nó đi?”.

Dạ Hoa lạnh lùng lườm lão một cái. Ta ôm trán suy ngẫm một lát, thận trọng nói: “Ta và hắn quả thực không còn gì có thể kết thúc được nữa, cái cần kết thúc thì đã kết thúc rồi”. Mắt Chiết Nhan vẫn còn lóe sáng, xì, lập tức đã xuôi xị.

Vì động Hồ Ly không thường xuyên có khách, phòng khách thường dùng chỉ có mỗi một gian. Giờ đây, phòng khách duy nhất đã bị Dạ Hoa chiếm lấy, căn phòng khi xưa đại ca, nhị ca ở đã phủ đầy bụi, Chiết Nhan cười hì hì kéo tứ ca đến đó cùng ở, coi như bù đắp cho nỗi nuối tiếc không xem được trò hay.

Tuy Mê Cốc đã về phòng nghỉ ngơi, nhưng lão vẫn cố gắng ngồi đợi Tất Phương (ra ngoài tìm ta chưa về), ta cùng lão ngồi đợi một lát, ngáp liền hai, ba cái, liền bị Dạ Hoa kéo về đi ngủ.

Mê Cốc rất chu đáo, đã chuẩn bị một nồi nước nóng to, bảo ta trước khi đi ngủ nên tắm rửa, ta vô cùng hài lòng.

Sáng hôm sau, Dạ Hoa đến gõ cửa phòng ta, giục ta cùng về Thiên Cung. Vì chiều hôm qua ta ngủ cũng nhiều, đến tối tuy ngáp liên tục, đến lúc đi nằm thì ngủ chẳng ngon, nên vừa nghe tiếng bước chân của Dạ Hoa là đã tỉnh như sáo.

Hắn đã thu xếp đâu vào đó, ta còn ở trong phòng xoay trái xoay phải một vòng, rồi tiện tay lấy một bộ xiêm y, nhân thể cầm theo chiếc quạt mới ngày hôm qua.

Ta đã sống ngần này tuổi, bốn bể tám cõi đã đi khắp, chỉ chưa bao giờ lên Cửu Trùng Thiên, lần này nhờ Dạ Hoa mới có được cơ duyên này, có thể vui vẻ dạo chơi Cửu Trùng Thiên, khiến trái tim cô đơn của ta vui vẻ xiết bao.

Vì chỉ có một đường vào vương quốc Thanh Khâu, cho dù là cưỡi mây hay là đi bộ, đều phải đi qua con đường hình bán nguyệt, thêm nữa Dạ Hoa ngày ngày đều có thói quen tản bộ buổi sáng, ta cũng theo hắn, không gọi mây lành, mà đi bộ ra cửa cốc. Cửa cốc này chính là ranh giới giữa tiên giới và phàm giới, một nửa khí lành nghi ngút, một nửa hồng trần mịt mù, hai bên tiếp xúc lâu ngày, cuối cùng suốt năm sương khói mù mịt.

Trong làn sương mù dày đặc, ta nhìn thấy một bóng người đứng thẳng, áo choàng màu tím bạc, tư dung diễm lệ, ánh mắt vời vợi, chính là Ly Kính.

Hắn nhìn thấy ta, chầm chậm cất lời: “A Âm, ta còn tưởng nàng sẽ mãi mãi không gặp ta nữa”.

Ta cũng ngẩn ra, đúng là không ngờ hắn vẫn đứng ở đây.

Năm đó hắn có thể mười ngày nửa tháng đến chân núi Côn Luân chờ ta, vì khi đó hắn chỉ là một hoàng tử nhàn tản, cho dù cả ngày ở bên ngoài cung Đại Tử Minh, thì cũng chỉ là ngắt hoa hái cỏ đấu chim chọi thú mà thôi. Bây giờ không giống ngày xưa, thân là vua của Quỷ tộc, ta thực sự không ngờ hắn có còn có thể tiêu dao đến thế.

Dạ Hoa lạnh lùng đứng bên cạnh, liếc ta một cái, nói: “Thượng thần Chiết Nhan nói không sai, cái gì cần kết thúc vẫn nên sớm kết thúc đi thôi. Chỉ một mình nàng cho rằng đã kết thúc thì chưa phải là kết thúc, phải biết rằng chuyện này, nên cả hai bên cùng dứt khoát, mới được coi là giải quyết sạch sẽ”.

Ta kinh ngạc, cười nói: “Chuyện này quả cần học vấn, ngươi đúng là có kinh nghiệm mà”.

Hắn lặng người, sắc mặt không biết vì sao lại hơi trắng nhợt.

Trước cửa cốc có mấy chiếc ghế đá, ta cúi xuống ngồi lên đó. Dạ Hoa chỉ khẽ nói một câu: “Ta đứng ở phía trước chờ nàng” rồi không thấy bóng dáng đâu nữa.

Ly Kính bước hai bước qua, gượng cười nói: “Nhìn thấy nàng như thế này, ta cũng yên tâm”, ngừng lại rồi tiếp lời, “Thương thế trên người nàng đã không còn chướng ngại gì chứ?”.

Ta phất phất tay áo, thờ ơ đáp: “Đã phiền Quỷ Quân quan tâm, xương cốt lão thân xưa nay cứng rắn, một chút vết thương nhỏ nhoi đâu có hề gì”.

Hắn thở phào một hơi: “Vậy thì tốt, vậy thì tốt”. Dứt lời, lại móc từ tay áo ra một vật, đưa thẳng đến trước mặt ta. Ngước lên nhìn, đó chính là viên ngọc cầu hồn xanh biêng biếc mà năm xưa ta mượn không được.

Chiếc quạt trong tay sập lại một cái, ta ngẩng đầu: “Quỷ Quân định làm gì?”.

Hắn cười thê lương: “A Âm, năm xưa ta suy nghĩ không đúng, gây nên sai lầm, nàng hãy cầm lấy ngọc cầu hồn, đặt vào trong miệng thượng thần Mặc Uyên, không cần mỗi tháng lấy một bát máu tim nữa”.

Ta kinh ngạc vô hạn, trong lòng biết bao cảm xúc hỗn độn dâng lên, ngẩng đầu lên nhìn hắn một hồi lâu, cuối cùng cười nói: “Ý tốt của Quỷ Quân, lão thân xin nhận, nhưng tiên thể của sư phụ từ năm trăm năm trước đã không cần dùng máu của lão thân nuôi dưỡng. Thánh vật này xin Quỷ Quân hãy mang về Quỷ tộc dùng đi”.

Năm trăm năm trước, sau khi nhốt Kình Thương vào chuông Đông Hoàng, khiến ta ngủ liền suốt hai trăm năm. Hai trăm năm này không thể lấy máu nuôi Mặc Uyên, đợi đến khi tỉnh lại, điều đầu tiên ta làm là vội vã đến xem tiên thể của Mặc Uyên, chân tay lạnh toát lo sợ người xảy ra chuyện, thì phát hiện dù không có máu của ta, tiên thể người vẫn được bảo quản tốt. Chiết Nhan tặc lưỡi nói: “Chỉ sợ Mặc Uyên sắp tỉnh lại”. Ta vừa sợ vừa mừng, thận trọng nghĩ mãi về điều này, Chiết Nhan toàn nói xằng, cho đến giờ Mặc Uyên vẫn chưa tỉnh lại.

Cánh tay Ly Kính cầm viên ngọc cầu hồn giơ lên giữa không trung rất lâu, rồi lặng lẽ thu lại, sắc mặt buồn thảm, chỉ nghẹn ngào nói: “A Âm, chúng ta không quay lại được phải không?”.

Bốn bề là mây mù giăng phủ, che rợp đến mức giọng nói của hắn cũng trở nên lãng đãng, không chân thực.

Thực ra, chỉ cần nghĩ lại, sâu thẳm trong ký ức vẫn còn có thể tìm được một thiếu niên Ly Kính năm xưa, tuy rằng đã già đi, mắt mi có rậm hơn xưa, thì vẫn rất phong lưu khí độ, gương mặt vẫn hồng hào sáng sủa, nhìn tổng thể không có vẻ thương xuân sầu thu, ảo não rầu rĩ của chốn khuê các. Thời gian quả thực đã mài mòn con người ta.

Cảm thán qua rồi, lại nhớ tới lúc mới nhìn thấy hắn thì lại lạnh lùng ngay. Giờ đây nhớ tới những chuyện dĩ vãng xa xưa với hắn, từng chuyện từng chuyện một, giống như quay về kiếp trước, trong lòng bình lặng khôn cùng, chẳng dậy lên được gợn sóng nào, càng chớ nói đến hai chữ “quay về”.

Ta im lặng ngẩng lên nhìn bầu trời xam xám mênh mông, bất lực nói: “Chẳng qua chỉ là Quỷ Quân trong lòng có chút vướng mắc chưa cởi bỏ được mà thôi. Lão quân đã nói rồi, tính cách của Quỷ Quân, cả đời chỉ theo đuổi thứ chưa có được, đến khi có được rồi, thì sẽ không còn nâng niu nó nữa. Giờ đây tấm lòng của Quỷ Quân hướng về lão thân, chẳng qua là vì sau khi lão thân bị Quỷ Quân vứt bỏ, không tìm được chỗ nào tốt để chết, đành phải sống thật tốt tới giờ, đã khiến Quỷ Quân cảm thấy lão thân chưa bao giờ đặt Quỷ Quân trong trái tim, cảm thấy chưa bao giờ có được trái tim hồ ly dưới lốt hồ ly của lão quân, thế nên mới cứ vương vấn mãi…”.

Khóe mắt hắn hoe đỏ, khiến cho dung nhan càng diễm lệ hơn, nhưng không đáp, chỉ nhìn ta đăm đắm.

Ta định thần, xòe quạt ra, chạm lên những cánh hoa đào vẽ trên mặt quạt, lát sau lại dịu giọng nói: “Giống như hôm nay ta và ngài cùng bình tĩnh nói chuyện, sau này sẽ không có nữa, có một số chuyện ta thấy vẫn nên nói rõ thì hơn. Bảy vạn năm trước, nhờ ngài ta mới được nếm vị tình yêu lần đầu tiên, vì là lần đầu, nên không thể sánh được với những kẻ dày dặn tình trường, đương nhiên có thờ ơ, bị động một chút, nhưng tình cảm dành cho ngài trong lòng tuyệt nhiên sâu đậm. Mẹ ta thường lo lắng tính cách ta không giống người thường, không dễ khiến người ta thương yêu, nếu không dựa vào danh tiếng nhà họ Bạch thì không gả đi được. Còn ngài không biết gia thế của ta, thậm chí còn không biết ta vốn là nhi nữ, lại thật lòng yêu ta, còn ngày ngày gửi thư tình tới, thậm chí đuổi hết thê thiếp trong điện, một lòng một dạ với ta. Khi ấy, ta cũng thực lòng coi ngài sẽ là phu quân sẽ sống cùng ta trọn đời. Nếu không có chuyện của Huyền Nữ, đợi đến khi học thành tài, bái biệt sư môn, tất nhiên ta sẽ lấy ngài. Ngài cũng biết rằng, khi đó hai tộc chúng ta cũng có chút hiềm khích, từ khi quen ngài, ngày ngày ta đều nghĩ sẽ phải thuyết phục cha mẹ ta như thế nào để họ có thể đồng ý với hôn sự của chúng ta, vì sợ nên đã quên rằng, mỗi lần nghĩ tới một lý do tốt đẹp đều cười hì hì chép lại lên trên lụa, đúng là quá ngốc nghếch”.

Khóe môi Ly Kính run run.

Ta tiếp tục sờ lên mặt quạt, lạnh lùng nói: “Những gì Huyền Nữ có thể giúp ngài, với địa vị thần nữ Thanh Khâu của Bạch Thiển ta, chẳng nhẽ không giúp được ngài sao? Nhưng đương lúc tình nồng ý đượm với ta, ngài lại giáng cho ta một đòn đau đớn. Ta phá chuyện ngài và Huyền Nữ, trong lòng đau đớn khôn xiết, chỉ có thể than rằng ban đầu ta hồ đồ, móc hết tim hết phổi đem cho Huyền Nữ, đến lúc đó lại để cho ả ta đào tường khoét vách. Chẳng qua ta chỉ quạt cho ả một cái, ngài lại che chắn cho ả như vậy, đủ biết trái tim ta đau như thế nào? Câu nói đó của ngài “Ban đầu là ta mê muội” đã khiến trái tim ta lạnh giá. Ngài chỉ biết thoải mái buông tay, mà không cần biết sau cái thoải mái buông tay ấy là xiết bao chua xót cay đắng. Ly Kính, không phải mỗi người đều có thể trưng nỗi đau đớn lên mặt, cho dù không trưng ra mặt, thì nỗi đau trong lòng cũng nhức nhối không kém một phân. Ta luôn cho rằng mình có thể làm thê tử của ngài, chứ không ngờ rằng đó hoàn toàn chỉ là một câu chuyện cười. Nhiều khi nằm mơ thấy ác mộng, chính là cảnh ngài ôm Huyền Nữ, đẩy ta xuống núi Côn Luân. Khi ác mộng liên tiếp giày vò, lại chỉ nghe thấy ngài sai thú kỳ lân đến đón Huyền Nữ về cung Đại Tử Minh, mở tiệc chín ngày. Nói ra thật nực cười, miệng nói rằng thoải mái, nhưng thực sự ta vẫn nhớ nhung ngài không nguôi. Sau loạn Quỷ tộc, Huyền Nữ bị Kình Thương đánh một trận rồi đuổi về núi Côn Luân, ta đã hơi mừng thầm, hễ có được chút thời gian rảnh rỗi là không ngừng viện cớ cho ngài, để bản thân tin rằng ngài không thật lòng yêu Huyền Nữ, nếu không sẽ không để Huyền Nữ khổ sở nhường kia, trong lòng dần dần vui vẻ trở lại. Sau này mới biết hóa ra đó là khổ nhục kế của các người, Ly Kính, ngài không biết được cảm giác trong lòng ta lúc đó như thế nào đâu. Sau này sư phụ tạ thế, ta cố gắng mặt dày đi đến cung Đại Tử Minh xin ngọc cầu hồn, ngài mãi mãi không biết ta đã phải lấy biết bao dũng khí, cũng không biết rằng ngày hôm đó ngài đã khiến ta thất vọng đến nhường nào. Ngài nói ngài đố kỵ với sư phụ, mới không chịu đưa ngọc cầu hồn cho ta, nhưng Ly Kính, ngài làm tổn thương ta sâu sắc như thế, thực sự không thể bằng một phần vạn những gì sư phụ làm cho ta. Khi ở động Viêm Hoa, ta mất máu quá nhiều, vết thương khó chữa, tính mạng ngàn cân treo sợi tóc, nhưng hiện ra trước mắt không phải là gương mặt của ngài, ta hiểu rằng, mối tình này đến đây là kết thúc. Lúc ấy, ta mới được giải thoát”.

Ly Kính nhắm nghiền mắt, mãi lâu sau mới mở ra, khóe mắt đỏ sưng, nghẹn ngào nói: “A Âm, đừng nói nữa”.

Ta gượng gạo thu quạt về, buồn bã nói: “Ly Kính, ngài đúng là nam tử duy nhất mà Bạch Thiển ta một lòng yêu thương suốt mười bốn vạn năm qua. Nhưng bãi bể hóa nương dâu, chúng ta không thể quay về được”.

Thân hình hắn run lên, cuối cùng hai hàng nước mắt trào ra, hồi lâu sau, mới nói: “Ta hiểu ra thì đã quá muộn, nhưng rốt cuộc nàng vẫn không ở chỗ cũ chờ ta”.

Ta gật gật đầu, chẳng còn vấn vương gì với Quỷ tộc, lúc đi ta còn than một câu: “Sau này là người qua đường, chớ nên gặp nhau nữa”.

Nói rồi cáo từ rời đi. Ra khỏi đám mây mù, Dạ Hoa đang đợi ta ở phía trước không xa, nói: “Rõ ràng là những lời ngọt ngào, sao nàng nói ra lại khiến người ta đau lòng đến vậy”.

Ta chỉ gượng cười với hắn.

Chú thích:

31. Ý nhắc tới lần bị giam ở thủy lao của thượng thần Dao Quang khi trước (ND).

05Feb/17

TAM SINH TAM THẾ – THẬP LÝ ĐÀO HOA – Hồi 14

Nàng cũng từng tràn trề sắc xuân

Mấy ngàn năm đầu sau khi Mặc Uyên về cõi tiên, ta khổ sở đợi chờ, ngày ngày đều mong ngóng sẽ nằm mơ thấy người, để hỏi người một câu rốt cuộc bao giờ người quay lại. Mỗi lần đêm xuống, chìm vào giấc mộng, ta đều nhẩm câu hỏi này năm, sáu lượt, mấy chữ thuộc lòng như cháo chảy, chỉ sợ lúc nằm mơ thấy Mặc Uyên, sẽ kích động quá mà quên mất. Nhưng vì mộng chẳng thành, sau này ta cũng dần quên tâm tư ấy. Nhưng cuối cùng nền tảng của quá khứ thật quá kiên cố, giấc mộng này, ta vẫn nhớ lôi cái câu hỏi cũ rích ấy ra.

Bản thượng thần quả bội phục sự anh minh của mình.

Giấc mộng bắt đầu, cảnh mở đầu chính là cảnh tượng Chiết Nhan dẫn ta lên núi Côn Luân bái sư.

Vì mẹ ta sinh được bốn người con trai, khó khăn lắm mới sinh hạ được một mụn gái, hơn nữa mụn con gái này đã mang tật ngay từ khi còn là bào thai, khi ta sinh ra thể chất yếu ớt, cả động Hồ Ly đều lo lắng cho ta. Bốn ca ca đều được nuôi dạy khá thoải mái, còn ta thì khác, ăn uống ngủ nghỉ đều vô cùng nghiêm ngặt, ngoài động Hồ Ly ra, không được phép đi đâu ngoài Thanh Khâu và rừng đào mười dặm của Chiết Nhan. Vất vả suốt hai vạn năm, ta đã được nuôi dạy khỏe mạnh, nhưng họ vẫn chưa an tâm.

Khi ta hai vạn tuổi, cha mẹ vì một số chuyện mà không thường xuyên ở Thanh Khâu, bèn bảo tứ ca đến trông nom ta.

Cần phải biết rằng tứ ca rất giỏi giữ sĩ diện, bề ngoài vờ vịt ngoan ngoãn vâng lời, mà sau lưng thì chuyên gây thị phi.

Ta vô cùng ngưỡng mộ tứ ca.

Ngự lệnh của cha ta vừa ban xuống, tứ ca nhấm nhấm ngọn cỏ, ngồi trước động Hồ Ly, nhìn ta hiền từ hỏi: “Từ bây giờ trở đi, tứ ca sẽ chăm nom muội. Trứng chim lấy được trên cây, ta một quả, muội một quả; cá câu ở dưới hồ, ta một con, muội cũng một con”.

Ta vỗ tay tán thưởng tứ ca.

Khi ấy, Chiết Nhan đã rất quan tâm tới tứ ca, chỉ cần lôi danh hiệu của lão ra, thì họa lớn đến đâu có thể sóng yên bể lặng hết. Thế nên suốt ba vạn năm liền, tứ ca dẫn theo ta “chọc trời khuấy nước mặc dầu, dọc ngang nào biết trên đầu có ai”.

Đến khi cha mẹ ta có thời gian rảnh rỗi nghĩ tới chuyện dạy dỗ đứa con gái độc nhất thì cảm thấy đã sinh con gái thì nên dạy nó sao cho thùy mị, dịu dàng, nho nhã đoan trang, nhưng lúc ấy ta đã bị tứ ca làm hư rồi.

Cũng may trong năm vạn năm cùng tứ ca rong chơi ở Thanh Khâu, huynh muội ta đã gây ra không ít việc vặt nhưng lại chẳng gây ra họa lớn, ngày tháng trôi qua hết sức an vui, tính cách của hai người bọn ta khó tránh có chút ngây thơ, kiêu ngạo, hoàn toàn không thể bì được với khí độ bây giờ của Dạ Hoa.

Bản thượng thần luôn lo lắng, Dạ Hoa bây giờ mới chưa quá năm vạn tuổi, cho dù không phải ngây thơ, cũng ít nhiều phải có dáng vẻ hoạt bát. Vậy mà hắn lại trầm mặc thế kia, trên con đường đời hắn đã chịu không ít giày vò, trải qua biết bao cú sốc, kinh qua biết bao dâu bể!

Nói lại khi ta năm vạn tuổi.

Khi ấy, mẹ ta thấy ta như vậy thì rầu rĩ lắm. Trước là lo ta không lấy được chồng, đóng cửa động Hồ Ly suy nghĩ mất nửa tháng trời, sau đến một ngày hoàng đạo, ông trời mở mắt, để mẹ ta ngộ ra tuy tính cách ta chẳng ra sao nhưng dáng vẻ cũng không đến nỗi nào, dù sao cũng không nên gả đi, mới vợi bớt lo âu.

Nhưng không lâu sau lại nghe được một tin đồn từ chỗ Mê Cốc, nói rằng trong một thủy phủ ở dưới chân núi liền kề, có nhà họ Chúc Âm (30) mới gả con gái đi. Tiểu Chúc Âm vì thuở nhỏ mồ côi mẹ, không có ai dạy dỗ, nên tính cách có hơi yếu đuối, sợ khổ sợ mệt, khiến cho mẹ chồng ghét, ngày ngày đều kiếm cớ để mắng mỏ nàng ta. Tiểu Chúc Âm không nhẫn nhịn được mới gả được đi được chưa đầy ba tháng đã khóc lóc ầm ĩ trở về nhà mẹ đẻ.

Nghe nói Tiểu Chúc Âm vì là dâu mới bị bắt nạt, lại nhìn thấy dáng vẻ của ta, mẹ ta lại càng buồn bực lo lắng hơn. Bà cảm thấy với tính cách của ta, dù có gả đi được, thì cũng sẽ một ngày bị mẹ chồng đánh cho ba trận. Nghĩ tới sau này ta có thể phải chịu khổ, hễ nhìn thấy ta là mẹ ta lại rớt nước mắt.

Có một lần, Chiết Nhan đến động Hồ Ly chơi, đúng lúc mẹ ta đang âm thầm lau nước mắt, bèn hỏi duyên cớ làm sao, trầm ngâm giây lát mới than rằng: “A đầu này đã lớn như vậy, tính cách cũng không thay đổi được. Bây giờ chỉ có thể cho nó học hỏi chút bản lĩnh, sau này về nhà chồng, trên là tộc trưởng quản lý mọi việc trong tộc, dưới là tiểu đồng quét dọn, không có kẻ nào giỏi hơn nó, thì dù nó có ngây thơ kiêu ngạo, cũng sẽ không bị ấm ức”.

Mẹ ta nghe xong những lời ấy, cảm thấy có lý bèn đồng tình, vỗ đùi một cái, sự việc đã được quyết định như thế.

Xưa nay mẹ ta luôn là người mạnh mẽ, cảm thấy đã thành tâm thành ý tìm cho ta một vị sư phụ để học hỏi thì sẽ phải tìm một sư phụ giỏi nhất trong bốn bể tám cõi mới không uổng phí tâm tư này của người.

Đắn đo hơn nửa tháng trời cuối cùng đã chọn thượng thần Mặc Uyên, cai quản âm nhạc và chiến tranh sống trên núi Côn Luân.

Trước đó ta chưa bao giờ gặp Mặc Uyên nhưng tên tuổi của người thì lại quá quen thuộc.

Khi ta và tứ ca chào đời, chiến sự trong bốn bể tám cõi đã không còn liên miên, thi thoảng mới diễn ra một trận, mà có thì cũng chỉ là những trận chiến nho nhỏ, người bề trên chẳng cần lộ diện. Các trưởng bối có lúc cũng kể lại những trận chiến lớn thực sự từ lúc phân chia âm dương, lưỡng nghi, ví dụ như tám cõi nổi giận ra sao, chín châu nhuộm máu thế nào, đám đàn ông đã ngoan cường cứng cỏi, da ngựa bọc thây ra sao, rồi lập công lập nghiệp thế nào, nói đến mức ta và tứ ca đều đau cả đầu.

Khi ấy, trong Thần tộc còn lưu truyền rất nhiều điển tịch ghi chép về những chiến sự thời viễn cổ, hai huynh muội ta rất hiếu học, thường xuyên đến mượn đám tiên hữu quen thuộc về đọc. Hoặc tự mình cũng có đôi bản sách quý, trao đổi với họ.

Trong những điển tịch này, đâu đâu cũng bắt gặp bóng dáng của Mặc Uyên. Đám thiên quan viết sách đều khen tư thế của người uy vũ, trên người mặc khôi giáp Huyền Tinh, tay cầm kiếm Hiên Viên, nào là chiến thần bất bại.

Ta và tứ ca ngưỡng mộ người khôn xiết, thầm tưởng tượng dáng vẻ oai phong của người trông như thế nào.

Ngưỡng mộ chân thành, thảo luận hơn một năm, chúng ta cảm thấy vị thượng thần Mặc Uyên này hẳn phải có bốn cái đầu, mỗi cái đầu trông về một hướng, con ngươi tròn xoe như gương đồng, tai to như quạt cỏ bồ, trán vuông, miệng rộng, vai tay lưng đều rộng, dày như núi đá, hai chân hai cánh tay đều thô ráp như đá tảng, thổi một hơi là dậy cơn cuồng phong, giậm một chân là đất rung chuyển. Chúng ta suy nghĩ trăn trở, cho rằng phải như thế mới có thể thể hiện sự nhanh nhạy hơn người, thông minh mẫn tiệp, tráng kiện bền bỉ của một cao nhân đệ nhất. Phác thảo xong tư thế oai nghiêm của Mặc Uyên, ta cùng tứ ca phấn chấn chạy đến tìm nhị ca vẽ tranh rất đẹp, xin huynh ấy vẽ cho chúng ta hai bức tranh, treo trong nhà để ngày ngày ngắm nghía.

Vì thế nên vừa nghe nói sẽ bái Mặc Uyên làm thầy, ta đã không kìm được kích động. Tứ ca cũng muốn đi cùng ta, nhưng lại bị Chiết Nhan ngăn lại, thành ra giận dữ mất mấy ngày.

Chiết Nhan dẫn ta cưỡi một đám mây lành trong hai canh giờ, cuối cùng đến một ngọn núi tiên rất thâm u. Ngọn núi này hoàn toàn khác với Thanh Khâu, cũng khác với rừng đào mười dặm, ta cảm thấy vô cùng mới mẻ.

Có hai tiểu tiên đồng đã đứng trước cửa núi chờ, dẫn bọn ta vào trong một đại sảnh rộng rãi. Trong đại sảnh có một nam tử mặc áo bào đen ngồi sẵn đó, lấy tay chống cằm, dựa đầu vào vai, thần sắc lạnh nhạt, khuôn mặt hơi hơi ẻo lả.

Ta thực sự không biết nữ tính là thế nào, chỉ nghe tứ ca nói qua loa, gương mặt tuấn tú của Chiết Nhan kia là đẹp, nếu không bằng Chiết Nhan thì diện mạo tầm thường, nếu đẹp hơn Chiết Nhan thì chính là ẻo lả. Câu nói chẳng ra sao này của tứ ca ta luôn ghi nhớ trong lòng.

Vì ta được tứ ca nuôi dạy từ bé nên luôn nghe lời huynh ấy, đến huynh ấy nói bức tranh mà chúng ta cùng tưởng tượng ra đang được treo trong phòng kia là một vẻ đẹp tuấn tú không gì lý giải nổi, ta cũng vẫn tin theo mà không nghi ngờ, luôn âm thầm cố gắng để trở thành như thế.

Cho nên, khi Chiết Nhan dẫn ta đến núi Côn Luân, cất tiếng chào hỏi với vị thư sinh mặc áo bào đen này: “Mặc Uyên, bảy nghìn năm nay chẳng thay đổi gì”. Ta đã bị sốc nặng. Đôi mắt vừa dài vừa nhỏ của người có thể nhìn khắp thiên lý sao? Đôi tai mảnh dẻ của người có thể nghe thấu tám hướng? Đôi môi mỏng của người có thể phát âm thanh lí nhí như muỗi kêu có thể khiến người ta phải lắng nghe sao? Thân hình gày gò của người có thể nhấc nổi kiếm Hiên Viên – đứng hàng thứ hai trong thần khí của tám cõi sao?

Ta cảm thấy những công lao sự nghiệp to lớn ghi chép trong điển tịch đều là lừa gạt cả, cảm giác niềm tin sụp đổ ập tới, ta nắm tay Chiết Nhan mà đau lòng vô hạn.

Khi Chiết Nhan giao ta cho Mặc Uyên, còn ân cần dặn dò một lượt mấy lời nhảm nhí, như: “Đứa trẻ này không cha không mẹ, ta thấy nó bị vứt trong khe núi nên nhặt về, chỉ còn thoi thóp thở, dáng vẻ tiều tụy nhếch nhác, sau khi tắm rửa mới nhận ra là một con bạch hồ ly”. Ví dụ như: “Ta nuôi nó đã năm vạn năm, nhưng gần đây nó càng lớn càng đẹp, người ấy nhà ta có hơi ghen”. Lại như: “Ta đưa nó tới chỗ ngươi là chuyện chẳng đành, đứa trẻ này đã rất khổ, ta luôn yêu chiều nó, tính tình khôn ngoan, nên cũng phiền ngươi ưu ái nó”.

Ta cảm thấy mấy câu nói nhảm này của Chiết Nhan thật chả ra sao, quá đau lòng nên cũng buồn rầu. Mặc Uyên luôn lặng lẽ chỉ ngồi nghe mà không nói gì.

Mặc Uyên đã nhận ta làm đồ đệ, Chiết Nhan coi như đã “đại công cáo thành”. Sau khi lão thành công lui gót, ta tiễn lão đi một đoạn. Khi đến cửa núi, Chiết Nhan dặn dò cẩn thận: “Tuy bây giờ ngươi là thân nam giới, nhưng lúc tắm giặt cũng không được ở cùng các sư huynh ngươi, không thể để chúng lợi dụng, vẫn phải biết cách giữ gìn như một cô nương”. Ta gật đầu đồng ý.

Mặc Uyên quả nhiên là chăm sóc ta rất chu đáo, nhưng ta coi thường người trông thiếu anh dũng, nên không thèm nhận ân tình của người.

Với Mặc Uyên, ta luôn có một chút không cung kính, cho đến khi vấp váp lần đầu tiên trên con đường đời, gặp phải chuyện tổn thương ghê gớm đến bản thân.

Chuyện này, cũng từ rượu của Chiết Nhan mà ra.

Chiết Nhan giỏi cất rượu, lại rất yêu chiều tứ ca, rượu ủ ra đều do tứ ca đem đi, tứ ca luôn chăm sóc ta, ta được thơm lây huynh ấy ở điểm này, nên rất năng qua lại hầm rượu ở rừng đào mười dặm, dần dần đâm ra hơi thích rượu. Vì ta uống quá nhiều rượu của Chiết Nhan, trong lòng cũng hơi đắc ý, gặp tiệc lớn tiệc nhỏ cũng đều thay lão khen ngợi vài tiếng trước đám tiên hữu. Thành thật mà nói lúc đó kỹ thuật nấu rượu của Chiết Nhan đã rất phi phàm, nhưng rốt cuộc vẫn còn có thể tiến bộ nữa, nhưng ta tuổi nhỏ khờ khạo, luôn khoa trương, có ba phần thì nói bốc lên năm phần, có năm phần thì nói bốc lên mười phần, cho nên ở yến tiệc có khen rằng rượu của lão là độc nhất vô nhị, đương nhiên khiến cho mấy người ham rượu nghe không lọt lỗ tai, phải lôi rượu nhà khác ra để hạ Chiết Nhan xuống, bẻ gãy nhuệ khí của ta.

Trên núi Côn Luân có một người như thế, Thập lục sư huynh của ta Tử Lan. Bây giờ ta vẫn còn cảm thấy Tử Lan hơi nhỏ mọn, những sư huynh khác khi nghe ta tán thưởng Chiết Nhan đều chỉ cười trừ mà thôi, mặc dù cũng có ý kiến này kia, nhưng nể ta là sư đệ nhỏ nhất, nên đều bỏ qua cho ta. Tử Lan thì lại không thế, thường xuyên ngoác miệng ra, hừ mũi cực kỳ khinh mạn, nói: “Chậc chậc chậc, được uống thử rượu của sư phụ nấu chưa?”. Sư phụ mà huynh ấy nói, đương nhiên là Mặc Uyên.

Khi ấy, ta vẫn hơi coi thường Mặc Uyên, không chịu chấp nhận người khác khen người, thấy bộ dạng tự cho mình là đúng đó của Tử Lan, lửa giận bốc ngùn ngụt, trong lòng thầm quyết, lần sau nhất định nghĩ cách, để cho huynh ấy phải thừa nhận rượu của Mặc Uyên nấu không ngon bằng rượu của Chiết Nhan trước mặt tất cả các sư huynh, Mặc Uyên không sánh được, Mặc Uyên còn lâu mới bằng.

Cách mà ta nghĩ lúc đó là một cách hết sức ngô nghê, chẳng qua là đến hầm rượu của núi Côn Luân lấy trộm một bình rượu do Mặc Uyên nấu, đưa cho Chiết Nhan tham khảo, làm ra một bình còn ngon hơn gấp trăm gấp ngàn lần. Cuối cùng là trộm được, nhưng không dám đi qua cửa chính, định từ rừng đào sau núi đi vòng, vòng xuống núi rồi cưỡi mây đi đến phủ của Chiết Nhan. Lúc vòng vèo đến rừng đào, chẳng may bị lạc đường, vất vả cả nửa ngày mà không đem được rượu đi, miệng thì khát, trên người lại chỉ mang độc một bình rượu của Mặc Uyên, thế là ta lấy ra giải khát.

Vừa nhấp một ngụm ta đã hơi bàng hoàng. Chỉ một ngụm nhỏ mà thôi, mùi rượu đã tràn khoang miệng, vị cay dịu xộc đến cuống họng. Tài nghệ của Chiết Nhan, phải nâng cao một chút nữa, thì mới chạm được đến hỏa hầu này.

Mặc Uyên quả nhiên có bản lĩnh đệ nhất này! Một bạch diện thư sinh sao lại có được bản lĩnh đệ nhất này?

Ta vô cùng bi phẫn, uất ức dâng tràn, rượu trong tay cho dù có mang đến cho Chiết Nhan cũng chẳng để làm gì. Ta đau buồn một lúc, rồi dứt khoát uống tì tì hết sạch bình rượu.

Đâu biết rằng loại rượu này mới đầu uống êm dịu, nhưng về sau say đến không ngờ. Ta hoa mày chóng mặt dựa vào gốc đào, chẳng bao lâu sau thì ngủ thiếp đi mất.

Khi tỉnh lại, thì có chút khác biệt với hôm qua, không phải tự nhiên mà tỉnh, cũng không phải bị mấy tiếng thúc giục cằn nhằn của đại sư huynh gọi dậy, mà là bị hắt một chậu nước lạnh, giật mình tỉnh dậy.

Người hắt nước có lẽ cũng có kinh nghiệm, phương hướng và lực đạo đều rất chuẩn, chỉ cần một chậu nước, đã khiến ta tỉnh táo trở lại. Khi ấy là ngày tuyết tan của đầu xuân, chậu nước đó hẳn là chậu nước tuyết tan ra, áo xiêm thấm đẫm dính trên người, chỉ trong thời gian uống một chén trà mà khiến ta hắt hơi một cái dữ dội.

Một cô gái bưng chén trà đứng bên cạnh chiếc ghế bằng gỗ đen, nàng chỉ uống một ngụm trà rồi bỏ chén xuống, thong thả chậm rãi lạnh lùng nhìn ta. Hai thị nữ đứng hầu bên nàng ta, trên đầu còn chải tóc hình quả bí. Ngày ta bái sư nhập môn, đã được đại sư huynh dặn dò, bảo ta chớ có dây vào mấy thiếu nữ búi tóc hình quả bí, cho dù đối phương thất lễ trước, thân là đệ tử của núi Côn Luân, cũng phải nhường ba, bốn phân. Vì những nữ tử búi tóc hình quả bí kia thường xuyên tới núi Côn Luân chơi, thì chắc chắn là tỳ nữ của thượng thần Dao Quang. Thượng thần Dao Quang là nữ thần dịu dàng thời bình, hung mãnh thời chiến, luôn si mê thượng thần Mặc Uyên, sư phụ của chúng ta, gần đây còn yêu đơn phương dữ dội hơn, dứt khoát dời nhà đến gần núi Côn Luân, cách mấy ngày lại sai tỳ nữ đến núi Côn Luân khiêu khích kiếm chuyện, muốn khích Mặc Uyên đánh với nàng ta một trận, xem xem bản lĩnh của nàng, phải hàng phục bám váy nàng, vĩnh viễn cùng nàng kết đôi. Mưu tính của nàng ta không tồi, nhưng dường như Mặc Uyên lại không coi đó là chuyện lớn, chỉ dặn dò đệ tử phải coi người tới là khách, có thể chiều chuộng gì thì chiều chuộng hơn một chút.

Mấy thị nữ tóc quả bí trước mắt nhắc nhở ta, khiến ta nhận ra thân phận họ trong giây lát, người ngồi trên ghế uống trà kia, chính là thượng thần Dao Quang yêu đơn phương Mặc Uyên.

Nàng ta nhân lúc ta say túy lúy mà trói bắt ta về đây, chắc là muốn thỏa tâm nguyện, khích cho Mặc Uyên đánh với mình một trận, biết đâu trong trận này Mặc Uyên nảy sinh tình cảm với nàng ta, kế đó chàng đoán thiếp thiếp đoán chàng, kế đó chàng hữu tình thiếp hữu ý, kế đó cầm sắt hài hòa song túc song phi.

Nhưng lại liên lụy đến ta thành hòn đá lót đường, ta cảm thấy mình vô tội biết bao, oan ức biết bao.

Một thị nữ đứng bên phải ho một tiếng, nhận cái nhìn của chủ nàng ta lập tức làm bộ dáng vẻ dạy dỗ người khác, nói: “Núi Côn Luân là nơi thánh địa thanh khiết bậc nhất trong bốn bể tám cõi, con hồ ly đực yêu mị như ngươi lại dám trà trộn vào để dụ dỗ thượng thần Mặc Uyên sao?”.

Ta ngớ ra, rồi “a” một tiếng.

Nàng ta trừng mắt nhìn ta rồi nói tiếp: “Ngươi nhìn ngươi xem, mắt, mày, miệng, đều là vẻ yêu mị! Từ lúc thu nhận ngươi làm đệ tử, thượng thần Mặc Uyên lúc nào cũng yêu thương bảo vệ”. Sắc mặt thượng thần Dao Quang không tốt lắm, thị nữ đó lập tức sửa, “Bèn bỏ bê tiên đạo, thượng thần nhà ta niệm tình tiên liêu, không nỡ giương mắt nhìn thượng thần Mặc Uyên đi vào con đường sai lầm, không thể không giúp đỡ”. Nàng ta nói chậm lại, “Tuy rằng ngươi phạm phải sai lầm lớn như vậy, nhưng thượng thần nhà ta nổi tiếng từ bi, nên cho ngươi làm đồng tử của thượng thần nhà ta, chuyên tâm tu hành, cũng là sửa đổi bản tính ngoan cố của ngươi, còn không mau mau quỳ xuống cảm tạ ân tình của thượng thần nhà ta”.

Ta ngây người ra nhìn bọn họ, hoàn toàn không hiểu họ đang diễn trò gì. Nghĩ mãi lại cảm thấy từ khi mình đến núi Côn Luân, ngoài việc lấy trộm rượu khỏi hầm ra, thì chưa từng làm gì trái quy củ, nếu có thì có chăng chỉ là lúc ban đầu nhờ cậy quan hệ để được bái sư môn mà thôi.

Ta rất phẫn nộ, bực bội quát: “Ta chẳng làm gì sai với sư phụ, sư phụ đối tốt với ta cũng vì có cố nhân nhờ cậy, thương xót ta thân thế thê thảm. Ngươi bắt ta đến đây, còn hắt nước vào ta, chỉ một ngón tay sư phụ ta cũng còn hơn các ngươi trăm lần ngàn lần, ta quyết không làm đồng tử dưới trướng của ngươi”.

Thượng thần Dao Quang đập bàn một cái, tức giận thét lên: “Ngoan cố, ngu tối như thế, tống nó vào thủy lao, giam ba ngày”.

Bây giờ ngẫm lại, khi đó Dao Quang đang bị đố kỵ che mờ mắt, tuy rằng là hiểu lầm, còn ta tuổi trẻ bồng bột không biết ăn nói, lại đem một hiểu lầm có thể tháo gỡ làm thành một nút chết, sau này phải nếm khổ hai ngày kể ra cũng đáng.

Thủy lao trong phủ của thượng thần Dao Quang, thú vị hơn nhiều những thủy lao bình thường khác. Lúc đầu chỉ là nước ngập đến eo, cho một người sống vào đó, nước sẽ từ từ dâng từ eo lên, dần dần dâng lên, nhưng không bị ngập đầu. Tuy rằng không ngập đầu, không khiến bạn chết ngạt, nhưng luôn khiến bạn phải khổ sở vì bị ngừng thở. Nếu luôn ngừng thở như thế, thì cần nhịn thở là quen, nhưng nhịn được nửa canh giờ, nước lại dần dần rút lui, để bạn hít thở một hơi, rồi lại bắt đầu lại từ đầu.

Vì ta rong chơi đã bao năm, nếu có đem hết sức ra thì cũng không địch nổi một thượng thần, không thể phản kháng, chỉ có chờ chết.

Lúc Mặc Uyên đến, ta đã bị giày vò đến nỗi chỉ còn nửa cái mạng.

Cho dù là chỉ còn nửa cái mạng thì chung quy vẫn là một thiếu niên sức sống tràn trề, trong mơ hồ vẫn còn nhớ Mặc Uyên sầm mặt một tay vung lên mở chiếc khóa đen trên cửa nhà lao, vớt ta từ dưới nước lên giữa ánh lửa bập bùng, lấy áo bào bọc kín ta vào lòng, lạnh lùng nói với Dao Quang khuôn mặt đang trắng bệch, nói: “Mười bảy tháng hai, trên đỉnh Thương Ngô, món nợ này chúng ta phải tính sạch”.

Dao Quang rầu rĩ nói: “Thiếp rất muốn thử sức với chàng một trận, nhưng không phải trong tình cảnh này, cũng không phải…”.

Ta còn chưa nghe thấy nàng ta nói hết câu thì đã được Mặc Uyên sải bước đưa đi. Ra đến cổng gặp đại sư huynh, huynh ấy đưa tay đón ta, nhưng sư phụ không đưa, rồi cứ như thế mà đi.

Khi ấy, lần đầu tiên ta cảm thấy, cho dù Mặc Uyên không nói những lời kinh thiên động địa, thì giọng nói cũng sáng rõ trầm bổng. Cho dù cánh ta không được thô ráp như cột đá, cũng rất mạnh mẽ kiên cường. Mặc Uyên không còn là một bạch diện thư sinh.

Vừa về tới núi Côn Luân, ta đã ngủ mê mệt, khi tỉnh lại nghe đại sư huynh nói, Mặc Uyên đã đến núi Thương Ngô quyết đấu với thượng thần Dao Quang. Vì đây là cảnh tượng bảy vạn năm nay mới có một lần, từ nhị sư huynh đến thập lục sư huynh đều lén trốn đi xem. Đại sư huynh nhìn ta đầy tiếc nuối: “Đệ nói xem sao sư phụ lại sai huynh đến chăm sóc đệ?”. Không thể xem trận chiến giữa Mặc Uyên và Dao Quang, ta cũng rất nuối tiếc, nhưng để đại sư huynh không cảm thấy nuối tiếc nhiều như thế, chỉ có cách nhận ân tình cười ngốc nghếch hì hì hai tiếng.

Đại sư huynh đúng là nói không ngừng, nghe huynh ấy lải nhải mấy ngày liền ta mới hiểu ra chuyện Dao Quang bắt ta, thực ra là tiến hành rất kín kẽ cẩn mật.

Đêm đó đến khi tắt đèn mà ta vẫn chưa về phòng, các sư huynh rất lo lắng, nhất loạt đi tìm ta mà không thấy, càng nghi ngờ ta đã bị tiên tỳ của thượng thần Dao Quang bắt đi mất. Tuy suy đoán như thế nhưng cũng không có gì làm chứng cứ, các sư huynh đều rất lo sợ, bất đắc dĩ đành kinh động đến sư phụ. Sư phụ chuẩn bị đi nghỉ, nghe thấy chuyện chỉ khoác chiếc áo bào, rồi dẫn đại sư huynh đến phủ đệ của thượng thần Dao Quang. Thượng thần Dao Quang thà chết không chịu nhận, sư phụ vung kiếm Hiên Viên, không thèm đếm xỉa đến lễ nghi gì, thẳng đường xông tới, mới tìm thấy ta.

Đại sư huynh “chậc chậc” cảm thán: “Nếu không phải nhờ uy lực của sư phụ, thì Thập thất đệ chắc chẳng còn giữ được cái mạng nữa”. Sau đó lại cười nói, “Đệ vừa về đến Côn Luân là lại ngất đi, nằm mơ còn ôm tay sư phụ rất chặt kêu là khó chịu, kéo thế nào cũng không chịu buông ra, sư phụ thấy chẳng ra sao, đành vỗ vỗ vào lưng đệ an ủi “đừng sợ nữa, có sư phụ bảo vệ đây rồi”, ha ha, bộ dạng của đệ, đúng là chẳng khác gì đứa trẻ con”. Mặt ta đỏ bừng, huynh ấy lại nghi hoặc hỏi, “Rốt cuộc đệ đã đắc tội gì với thượng thần Dao Quang? Nàng ta tuy rằng có hơi xấu tính một chút, nhưng xưa nay cũng chưa từng ra tay tàn độc thế”.

Ta vừa điều dưỡng, vừa cân nhắc trước sau một lượt, định nói với huynh ấy, rằng lần này vị thượng thần đó đã ghen bóng ghen gió, nhưng lại cảm thấy nói xấu sau lưng người khác là không hay, bèn ấp úng nói lấp liếm vài câu.

Lần này ta nằm mơ thấy Mặc Uyên chính là mơ thấy chuyện này. Giấc mơ giống hệt với những gì xảy ra ngày hôm đó. Vốn sau trận chiến trên núi Thương Ngô, buổi chiều hôm đó Mặc Uyên đã quay về Côn Luân, Dao Quang thua trận thảm bại, sau trận chiến này đã chết hẳn mối tình si với Mặc Uyên, dời phủ đệ đi thật xa, thật xa. Nhưng trong giấc mộng của ta, sau trận chiến Thương Ngô ngày mười bảy tháng hai, Mặc Uyên lại không quay về. Ngày ngày ta đều quấn lấy đại sư huynh hỏi, rốt cuộc bao giờ sư phụ quay về, đại sư huynh đều trả lời ta, sắp rồi, sắp rồi.

Cho dù là nằm mơ, ta vẫn phải hỏi câu này, nhưng câu này đã hỏi hơi muộn một chút.

Nhưng ta tin đại sư huynh, huynh ấy nói sắp rồi, sắp rồi, ta cũng cảm giác đúng là sắp rồi, sắp rồi.

Ta đã chờ trong mơ suốt bảy vạn năm, cho dù đợi bảy vạn năm, cũng trong giấc mơ đó, ta luôn ngây ngô tin lời đại sư huynh, tin rằng sư phụ sắp về rồi, sắp rồi. Trái tim ngây thơ và bình yên ấy thực sự không thể so với ngày nay.

Chú thích:

30. Còn gọi là Chúc Long, là một trong sáu thần sáng thế của thời thượng cổ Trung Quốc, là vị thần mình rắn mặt người trong truyền thuyết Trung Quốc. Có ghi chép trong sách Sơn Hải Kinh (ND).